26.11.2014

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Năm 2014, sơ bộ sản xuất lúa các vụ, tổng diện tích gieo sạ được 754.212 ha, so kế hoạch bằng 98,01% và so với chính thức các vụ năm 2013 giảm 2,1% (giảm 16.167ha). Diện tích gieo trồng năm nay giảm nhiều ở vụ Thu đông (giảm 19.055ha), Xuân hè (giảm 5.701ha) và vụ Mùa ( giảm 2.814ha). Do năm thời tiết nắng hạn làm trễ lịch thời vụ, một số địa phương nông dân hạch toán thấy kém hiệu quả, nên ngưng sản xuất lúa vụ 3  để tập trung chuẩn bị làm đất cho sản xuất lúa chính vụ hoặc chuyển diện tích lúa vụ mùa sang trồng màu và nuôi trồng thủy sản. Năng suất đạt gần 60 tạ/ha, so kế hoạch tăng 0,22% (tăng 0,13 tạ/ha) và so năm trước tăng 3,3% (tăng 1,92 tạ/ha). Dothời tiết thuận lợi lúc thu hoạch nên lúa ít bị gãy đổ và diện tích nhiễm sâu bệnh ít hơn (diện tích nhiễm sâu bệnh vụ đông xuân giảm 15%) nên năng suất tuy có tăng nhưng chưa cao. Tổng sản lượng 4.522.485 tấn, bằng 98,23% kế hoạch (thấp hơn 81.685 tấn), tăng 1,13% (tăng 50.667 tấn) so với năm 2013.

* Vụ Thu Đông 2014: Đã kết thúc gieo sạ, diện tích được 75.505 ha, nhiều nhất ở huyện Giồng Riềng 30.003 ha, Tân Hiệp 24.338 ha và Châu Thành 9.428 ha.., diện tích đạt 77,05% kế hoạch (giảm 22.495 ha) và bằng 79,85% so với vụ Thu đông năm trước. Tính đến ngày 15/11 diện tích thu hoạch được trên 91%, năng suất sơ bộ đạt từ 49 tạ/ha - 49,5 tạ/ha, cao khoảng 1 tạ/ha so vụ Thu đông năm trước. Dự báo đến cuối tháng 11 sẽ kết thúc thu hoạch vụ này.

* Vụ Mùa 2014-2015: Tính đến ngày 15/11/2014, toàn tỉnh diện tích gieo sạ 61.958 ha , bằng 99,44% so cùng kỳ năm 2013, chủ yếu ở các huyện thuộc vùng U Minh Thượng, do vùng này sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, sử dụng nguồn nước mưa để bơm tát. Trong đó: huyện An Minh được 29.521 ha, Vĩnh Thuận: 15.142 ha, An Biên: 7.834 ha, U Minh Thượng: 7.985 ha...hiện có huyện: An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Hà Tiên đã kết thúc gieo sạ. Lúa đang sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, diện tích bị nhiễm mặn trên vụ Mùa ở 2 huyện An Minh và An Biên là 1.033 ha, trong đó: An Minh diện tích mất trắng 959 ha. Diện tích nhiễm sâu bệnh trên lúa mùa gần 1.200 ha, so cùng kỳ vụ mùa năm trước diện tích nhiễm sâu bệnh giảm 69,8%, chủ yếu các bệnh đạo ôn (1.014ha), bệnh vàng lá vi khuẩn (173ha)...

 * Vụ Đông Xuân 2014-2015: Diện tích gieo sạ được 81.830 ha, tăng 2 lần so cùng kỳ năm trước, hiện nay tất cả các huyện trong tỉnh đã tiến hành gieo sạ vụ này;  diện tích gieo sạ nhiều nhất ở các huyện như: An Biên được 17.793 ha, Giang Thành: 11.445 ha, Vĩnh Thuận: 9.415 ha; Gò Quao: 9.053 ha, Tân Hiệp: 7.596 ha…

Diện tích nhiễm các loại sâu bệnh vụ Đông xuân năm nay khoảng 1.773 ha, chiếm 2,16% trên diện tích gieo sạ (vụ Đông xuân năm 2013: 3,45%), bệnh đạo ôn vẫn nhiễm nhiều nhất (1.211ha), ốc bưu vàng (277ha), sâu cuốn lá (205ha) và bệnh vàng lá vi khuẩn (80ha)..

* Cây rau màu: Trong tháng,  nông dân địa phương trong tỉnh đã gieo trồng rau màu với diện tích 423ha, gần bằng 78% so cùng kỳ năm trước, trong đó: huyện Hòn Đất khoảng 80 ha, bằng 80%; Rạch Giá: 50 ha, tăng 66%; Giồng Riềng: 250ha bằng 65,78%; An Biên: 19ha, tăng 26,6% ; Kiên Lương: 9,4ha, bằng 90,43; An Minh: 8ha, bằng 66,66%...

* Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/10/2014, tổng đàn gia súc đa số tăng hơn cùng kỳ nhưng chưa đạt kế hoạch năm. Cụ thể: Đàn trâu 6.287 con, giảm 11,26% (giảm 798 con) so cùng kỳ năm trước; đàn bò 10.775 con, tăng 11,3% (tăng 1.094 con); đàn heo 334.580 con, tăng 1,84% (tăng 6.040 con); đàn gia cầm 5,4 triệu con, tăng 1,88% (tăng 100 ngàn con). Năm nay số lượng đàn heo và gia cầm của tỉnh tăng hơn năm trước (năm 2013: đàn heo giảm 13.069 con; đàn gia cầm gỉảm 903 ngàn con), do nhu cầu tiêu dùng nhân dân ngày càng cao, giá thức ăn chăn nuôi ổn định, giá sản phẩm chăn nuôi ổn định vẫn ở mức khá cao và ngành Thú y tỉnh quản lý tốt dịch bệnh tạo tâm lý tốt cho người chăn nuôi, bên cạnh đó việc tái đàn trâu hiện còn chậm.

b. Lâm nghiệp Tính từ đầu năm đến nay diện tích rừng được chăm sóc là 7,66 ngàn ha, tăng 15,23% so cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác 31,6 ngàn m3, bằng 97,52%; củi khai thác: 28 ngàn ste, tăng 4,96%; Số vụ chặt phá rừng 33 vụ, giảm 5 vụ, với diện tích rừng bị phá 1,2 ha, giảm 0,2 ha so cùng kỳ năm 2013. Công tác tuần tra kiểm soát và chăm sóc rừng của ngành chức năng được duy trì thường xuyên, số vụ vi phạm chặt phá rừng từ đầu năm đến nay giảm và chưa để xảy ra vụ cháy nào đáng kể.

c. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010) tháng 11 ước tính đạt 1.688,4 tỷ đồng, bằng 89,17% so tháng trước, tăng 1,92% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị khai thác 974,6 tỷ đồng, bằng 99,64% so tháng trước và tăng 10,82% so cùng kỳ;  giá trị nuôi trồng 713,8 tỷ đồng, bằng 77,99% so tháng trước.

Lũy kế 11 tháng được 19.663,9 tỷ đồng, đạt 96,02% kế hoạch năm và tăng 13,24% (tăng 2.298 tỷ đồng) so cùng kỳ năm 2013, bao gồm: giá trị khai thác 10.766,4 tỷ đồng, đạt 94,61% kế hoạch và tăng 6,1% (tăng 619 tỷ đồng) và giá trị nuôi trồng  8.897,4 tỷ đồng, đạt 97,77% kế hoạch và tăng 23,27% (tăng 1.679 tỷ đồng) so cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản (khai thác và nuôi trồng) trong tháng 11 ước tính đạt 50,3 ngàn tấn, bằng 93,62% so tháng trước (giảm 3,4 ngàn tấn). Lũy kế 11 tháng được 588,3 ngàn tấn, đạt 96% kế hoạch năm và tăng 10,46% (tăng  55,7 ngàn tấn) so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác: Tháng 11 ước đạt 37,7 ngàn tấn, bằng 99,45% so tháng trước, trong đó: cá các loại đạt 26,2 ngàn tấn, bằng 97,11%; tôm được 2,9 ngàn tấn, bằng 99,17%, mực 4,6 ngàn tấn, tăng 0,39%...

Lũy kế 11 tháng sản lượng đạt 424,9 ngàn tấn, đạt 95,48% kế hoạch năm và tăng 6,18% (tăng 24,7 ngàn tấn) so cùng kỳ năm trước, trong đó: cá các loại đạt 292,1 ngàn tấn, tăng 9,68% (tăng 25,7 ngàn tấn); mực đạt 54,6 ngàn tấn, tăng 6,06% (tăng 3,1 ngàn tấn); tôm 36,2 ngàn tấn, tăng 0,42% (tăng 151 tấn) và hải sản khác 41,8 ngàn tấn, giảm 9,38% (giảm 4,3 ngàn tấn)

Tình hình khai thác những tháng cuối năm vẫn được duy trì ổn định, sản lượng khai thác trong tháng này giảm nhẹ so tháng trước, trong đó sản lượng hải sản khác thấp bằng 66,72% so cùng kỳ, một phần do phương tiện công suất nhỏ vửa giảm đi, vừa bị hạn chế khai thác khi thời tiết phía nam xấu vào cuối năm; nhưng sản phẩm có giá trị cao hơn như mực và cá thu, cá chim hơn bắt đầu tăng đáng kể nhờ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho ngư dân vay đầu tư trang thiết bị, nâng cấp máy móc phương tiện để đánh bắt xa bờ.

 Sản lượng nuôi trồng: Tháng 11 ước đạt 12,5 ngàn tấn, bằng 79,6% so tháng trước (giảm 3,2 ngàn tấn) và bằng 93,62% (giảm 857 tấn) so cùng kỳ, bao gồm: cá nuôi các loại được 6,5 ngàn tấn, tăng 1,4 ngàn tấn so cùng kỳ năm trước; tôm các loại đạt 4 ngàn tấn, giảm 1 ngàn tấn, riêng tôm thẻ chân trắng đạt 2,7 ngàn tấn, giảm 7 tấn; thủy sản khác 1,9 ngàn tấn, giảm 1,2 ngàn tấn (giảm từ lượng sò, hến). Lũy kế 11 tháng sản lượng nuôi trồng được 163,4 ngàn tấn, đạt 97,36% kế hoạch năm và tăng 23,39% (tăng 30,9 ngàn tấn) so cùng kỳ năm trước, bao gồm: cá các loại 62,1 ngàn tấn, tăng 21,79% (tăng 11,1 ngàn tấn); tôm các loại đạt 48 ngàn tấn, tăng 27,72% (tăng 10,4 ngàn tấn), trong đó: tôm thẻ chân trắng đạt 16,8 ngàn tấn, tăng 48,96% (tăng 5,54 ngàn tấn)  và thủy sản khác (cua, sò, hến): 53,2 ngàn tấn, tăng 21,53% (tăng 9,4 ngàn tấn) so cùng kỳ.

Về nuôi trồng trong tháng sản lượng cá nuôi tăng so cùng kỳ, chủ yếu là sản thu trong vuông tôm và thu hoạch cá nước ngọt tăng mạnh do người dân tận dụng lúc thời gian nhàn rỗi phát triển nuôi mùng, vèo ven sông;  năm nay lịch thời vụ thả nuôi sớm làm sản lượng tôm sú giảm so cùng kỳ. Ngoài ra, do mùa lũ về sớm làm nhiễm ngọt nước vùng ven biển ảnh hưởng đến sản lượng sò, hến. Nhìn chung 11 tháng qua sản phẩm nuôi trồng tăng đều, trong đó tăng mạnh nhất vẫn là sản lượng tôm, cua và sò. Sản lương nuôi trồng 11 tháng tăng do thời tiết thuận lợi, diện tích nuôi thủy sản tăng, hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh chi phí thấp (chủ yếu đầu tư con giống) có thể nuôi xen nhiều đối tượng với nhau mang hiệu quả kinh kế cao như nuôi cua xen tôm ở An Minh. Ngoài ra, năm nay giá cả thủy sản tương đối ổn định nên bà con tận dụng diện tích nuôi cá trong ruộng lúa, nuôi cá trong vèo mùng tăng thu nhập, sản lượng tăng mạnh so cùng kỳ. Tuy nhiên, nuôi tôm công nghiệp đạt thấp so kế hoạch, do ảnh hưởng bệnh hoại tử cấp tính chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả, tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu chưa mạnh; sản phẩm ốc hương giảm vì diện tích bị thu hẹp do quy hoạch phát triển du lịch Phú Quốc và dịch bệnh trên cá lồng bè làm người nuôi không mạnh dạn đầu tư.

2. Công nghiệp

Chỉ số phát triển công nghiệp (IIP): Tháng 11 toàn ngành tăng 10,79% so tháng trước và tăng 11,67% so cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành chỉ số sản xuất tăng khá cao so cùng kỳ năm trước như: ngành chế biến bảo quản thủy sản tăng 20,02%, kế đến là ngành khai khoáng tăng 14,65%; ngành sản xuất, truyền tải phân phối điện tăng 12,51%; sản xuất xi măng, vôi và thạch cao tăng 11,69%.

Tính chung 11 tháng chỉ số phát triển công nghiệp toàn ngành tăng 7,49% so cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành chỉ số tăng khá như: chế biến bảo quản thủy sản tăng 17,24%;  ngành khai khoáng tăng 13,39%; sản xuất xi măng, vôi và thạch cao tăng 9,49%; ngành sản xuất, truyền tải điện tăng 9,07%. Có 2 ngành chỉ số giảm là ngành sản xuất nước đá giảm 5,15% và ngành xay xát giảm 2,31%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010): Tháng 11 ước tính 3.616,3 tỷ đồng, tăng 11,7% so tháng trước. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến đạt giá trị cao nhất 3.440,8 tỷ đồng, tăng 12,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí đạt 112,4 tỷ đồng, tăng 1,99%;  ngành khai khoáng 48,2 tỷ đồng, tăng 7,98% so tháng trước...

Tính chung 11 tháng giá trị sản xuất công nghiệp được 29.006,4 tỷ đồng, đạt 88,9% kế hoạch năm và tăng 8,11% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, GTSX ngành chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất được 27.537,2 tỷ đồng, đạt 88,74% KH, nhưng tăng thấp nhất 7,9%  so cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: 935,1 tỷ đồng, đạt 90,37% KH, tăng 10,68%; ngành khai khoáng: 406,1 tỷ đồng, đạt 94,92% KH, tăng 15,26% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: 127,8 tỷ đồng, đạt 93,86% KH, tăng 14,71% so cùng kỳ.

Trong tháng, các sản phẩm sản xuất đạt khá cao như: cá đông lạnh: 225 tấn, tăng 28,57% so tháng trước; tôm đông lạnh 320 tấn, tăng 22,61%; mực đông lạnh 1,6 ngàn tấn, tăng 8,64%; xi măng trung ương 79 ngàn tấn, tăng 12,05%.

Tính chung 11 tháng, các sản phẩm đạt mức khá so kế hoạch và tăng so cùng kỳ năm trước như: Xi măng Trung ương 829 ngàn tấn, vượt 21,98% kế hoạch và tăng 61,01%; bột cá 84,3 ngàn tấn, vượt 29,74% KH, tăng 18,15%;  mực đông 14,5 ngàn tấn, vượt 16,52% KH và tăng 38,08% so cùng kỳ năm trước. Các sản phẩm có mức sản xuất đạt thấp so kế hoạch và so cùng kỳ năm trước như: xi măng VĐT nước ngoài được 1,6 triệu tấn, bằng 80,13% KH, giảm 4,52% so cùng kỳ; tôm đông 2,9 ngàn tấn, bằng 56,15% KH và giảm 23,16%; cá đông 2 ngàn tấn, bằng 41,34% KH và giảm 33,83%.

Giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo trong tháng tăng khá cao (12,15%) so các ngành khác, trong đó mặt hàng chế biến thủy sản như tôm đông, mực đông, cá chả có chỉ số sản xuất tăng cao nhất (20,02%), do các Doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh bắt đầu sản xuất ổn định, tích cực tìm nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Ngành khai khoáng giá trị cũng tăng (7,98%) và chỉ số sản xuất tăng 14,65%, hoạt động ngành này được thuận lợi về thời tiết, giá cả ổn định và đáp ứng nhu cầu sử dụng trong tỉnh.

3. Vốn đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 11 ước thực hiện được 385,8 tỷ đồng, so tháng trước tăng 2,06%. Tính chung 11 tháng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý được 3.771,3 tỷ đồng, so kế hoạch đạt 89,38% và tăng 12,21% so cùng kỳ năm 2013. Trong đó: Vốn cân đối ngân sách địa phương 1.104,2 tỷ đồng, đạt 89,41% KH và tăng 10,02%; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương được 648,3 tỷ đồng, đạt 90,84% KH và tăng 11,86%; vốn ngoài nước ODA 58,9 tỷ đồng, so KH đạt 87,9% và tăng 1,03% so cùng kỳ.

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách tháng 11 ước tính 431,2 tỷ đồng, bằng 96,48% so tháng trước và bằng 94,01% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng tổng thu ngân sách được là 4.854,9 tỷ đồng, đạt 97,33% dự toán năm và tăng 6,19% so cùng kỳ năm trước. Thu nội địa 3.204,2 tỷ đồng, bằng 91,55% dự toán năm, trong đó: các khoản thu so với dự toán năm như sau: thu từ doanh nghiệp Nhà nước địa phương 224 tỷ đồng, vượt 12,03%; thu phí và lệ phí 68,62 tỷ đồng, vượt 10,67%; thu tiền sử dụng đất 842,4 tỷ đồng, vượt  5,3%; thuế thu nhập cá nhân 283,2 tỷ đồng, vượt 4,9%; %; thu từ doanh nghiệp có vốn ĐT nước ngoài 223 tỷ đồng, bằng 99,26%; thu từ các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương 217,4 tỷ đồng, bằng 98,82%; thuế bảo vệ môi trường 154,6 tỷ đồng, bằng 89,38%; thu thuế công thương nghiệp ngoài Nhà nước 876,5 tỷ đồng, bằng 69,07% dự toán năm.

Chi ngân sách địa phương: Tổng chi ngân sách tháng 11 ước tính 722,2 tỷ đồng, bằng 86,84% so tháng trước và tăng 50,69% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng tổng chi 8.060,7 tỷ đồng, bằng 89,94% dự toán năm và tăng 13,91% so cùng kỳ năm trước, trong đó, chi thường xuyên 5.123,8 tỷ đồng, bằng 97,96% dự toán và tăng 8% so cùng kỳ; chi đầu tư phát triển 1.557,7 tỷ đồng, bằng 77,92% dự toán và tăng 46,25% so cùng kỳ.

5. Thương mại - dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng:

Trong tháng 11, thị trường bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định và có hướng phát triển. Chỉ số giá bán lẻ các nhóm hàng tương đương với tháng trước; giá cả các mặt hàng tiêu dùng và dịch vụ vẫn ổn định nhưng đối với một số nhóm hàng liên quan đến giá xăng, dầu, giá gas có giảm. Theo kết quả điều tra doanh thu bán lẻ và doanh thu tháng 11, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt được 3.523,1 tỷ đồng, bằng 99,87% so tháng trước. Tính đến 11 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ là 52.224 tỷ đồng, đạt 94,55% kế hoạch. Phân theo tưng ngành hoạt động kinh doanh đạt được như sau:

Tổng mức bán lẻ ngành thương nghiệp: Tháng 11 ước đạt 2.953 tỷ đồng, tăng 1,18% so tháng trước và tăng 8,67% so cùng kỳ. Các trung tâm thương mại, cửa hàng, siêu thị với lượng hàng hóa dồi dào và phong phú, tiếp tục thực hiện các chương trình khuyến mãi giảm giá nhằm tăng sức mua, nhưng sức mua chưa tăng cao.

Doanh thu hoạt động lưu trú và ăn uống: Trong tháng ước đạt 374,9 tỷ đồng, tăng 2,42% so tháng trước. Tính chung 11 tháng doanh thu hoạt động lưu trú và ăn uống 7.656,9 tỷ đồng, vượt 11,45% kế hoạch năm. Trong đó: Doanh thu lưu trú trong tháng ước tính 43,9 tỷ đồng, tăng 10,56% so tháng trước, lũy kế 11 tháng 480,6 tỷ đồng và doanh thu ăn uống 331 tỷ đồng, tăng 1,43% so tháng trước, lũy kế 11 tháng 7.176 tỷ đồng.

Doanh thu hoạt động du lịch lữ hành tháng 11 ước tính 2,6 tỷ đồng, tăng 9% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng đạt được 42 tỷ đồng.

Doanh thu hoạt động dịch vụ trong tháng đạt 192,5 tỷ đồng, bằng 79,95% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng đạt 3.368,3 tỷ đồng. Đa số doanh thu các loại hình dịch vụ đều tăng, trong đó dịch vụ y tế tăng 14%; dịch vụ phục vụ cá nhân cộng đồng tăng 5%...; riêng nhóm dịch vụ liên quan đến kinh doanh bất dộng sản và tư vấn giảm 39,36% so tháng trước, do dịch vụ kinh doanh bất động sản khối doanh nghiệp giảm 40%.

Về công tác quản lý thị trường: Trong tháng 10/2014, Chi cục Quản lý Thị trường đã kiểm tra 210 vụ việc, phát hiện 43 vụ vi phạm, trong đó có 33 vụ buôn bán vận chuyển hàng nhập lậu, 10 vụ vi phạm khác trong kinh doanh. Tính chung 10 tháng đã kiểm tra 1.985 vụ việc, phát hiện 431 vụ vi phạm. Đã xử lý thu phạt nộp Ngân sách Nhà nước 4,67 tỷ đồng.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu: Dự kiến trong tháng 11 kim ngạch xuất khẩu đạt 55,8 triệu USD, tăng 2,2 lần so với tháng trước tăng 85,5% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: hàng nông sản 40 triệu USD, tăng 4,9 lần so tháng trước; hàng thủy sản  14,8 triệu USD, bằng 96,01% và hàng hóa khác được 0,9 triệu USD, bằng 94,99% so tháng trước.

Các mặt hàng xuất chủ yếu dự kiến trong tháng chỉ có mặt hàng gạo là tăng rất cao  so tháng trước, kế đến là cá đóng hộp, còn lại các mặt hàng thủy sản có mức xuất giảm nhẹ. Cụ thể như: gạo được 83,8 ngàn tấn, tăng 5 lần; cá đóng hộp 2,2 triệu lon, tăng 11,11%; tôm đông 250 tấn, bằng 94,34%; mực đông và tuộc đông 1.125 tấn, bằng 96,15%; cá đông 300 tấn, bằng 95,24%; thủy sản đông khác 600 tấn, bằng 96% so tháng trước....

Nguyên nhân kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản trong tháng này tăng rất cao do các Công ty xuất khẩu gạo dự kiến thực hiện các hợp đồng của đối tác từ các tháng trước chuyển qua và thực hiện thêm hợp đồng mới phục vụ cho dịp Lễ Noel và Tết Tây. Các công ty dự kiến xuất như sau: Công ty Du lịch - Thương mại dự kiến xuất trực tiếp 18.924 tấn với trị giá trên 9,5 triệu USD, ủy thác 13.700 tấn với trị giá trên 5,7 triệu USD. Công ty kinh doanh nông sản ước xuất 8.375 tấn với trị giá trên 3,5 triệu USD, trong đó xuất ủy thác 8.000 tấn với trị giá trên 3,3 triệu USD. Công ty Thương mại-dịch vụ dự kiến xuất ủy thác 1.020 tấn với trị giá 433 ngàn USD. Công ty Cp nông lâm sản dự kiến xuất  trực tiếp 1.025 tấn với trị giá trên 607 ngàn USD và ủy thác xuất 4.100 tấn với trị giá 1,6 triệu USD. Công ty xuất nhập khẩu Kiên giang dự kiến xuất trực tiếp 30.925 tấn với trị giá trên 15,4 triệu USD, và ủy thác xuất 2.000 tấn với trị giá 821 ngàn USD. Công ty Thuận Phát ước tính xuất 2.500 tấn với trị giá 1,2 triệu USD. Thị trường xuất trong tháng 11 chủ yếu ở thị trường Châu Phi và Trung Quốc.

Kim ngạch xuất khẩu tính chung 11 tháng  được 413,1 triệu USD, bằng 61,66% kế hoạch năm, so với cùng kỳ năm trước giảm 27,62% (giảm 157,6 triệu USD). Bao gồm: Hàng nông sản 256,7 triệu USD, bằng 58,34% kế hoạch và giảm 27,11% (giảm 95,5 triệu USD); hàng thủy sản 145,8 triệu USD, bằng 83.37% kế hoạch và tăng 2,6% so cùng kỳ (tăng 3,6 triệu USD); hàng hóa khác 10,5 triệu USD, bằng 19,11% kế hoạch và bằng 13,77% so cùng kỳ (giảm 65,8 triệu USD).

Các mặt hàng xuất được trong 11 tháng như: gạo 575 ngàn tấn, bằng 52,28% kế hoạch năm và bằng 66,35% so cùng kỳ năm trước (giảm 291,6 ngàn tấn); tôm đông: 3,3 ngàn tấn, bằng 79,26% (giảm 887 tấn); thủy sản đông khác: 7,3 ngàn tấn, bằng 96,49% (giảm 267 tấn) so cùng kỳ. Các mặt hàng xuất tháng tăng so cùng kỳ năm trước như: mực đông và tuộc đông: 11,4 ngàn tấn, tăng 24,68% (tăng 2,2 ngàn tấn); cá đông: 3,1 ngàn tấn, tăng 61,73% (tăng 1,2 ngàn tấn); cá cơm sấy 461 tấn, tăng 35,99% (tăng 122 tấn) so cùng kỳ.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu: Tháng 11 ước tính 3 triệu USD, tăng 25,1% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng trị giá nhập được 29,1 triệu USD, bằng 72,89% kế hoạch năm và bằng 91,54% so cùng kỳ năm trước. Trị giá nhập trong tháng gồm các mặt hàng như : gỗ nhóm I nhập qua đường tiểu ngạch trị giá 592 ngàn USD; sắt làm lưỡi câu mực; giấy Krapt, hạt nhựa, thạch cao cung cấp nguyên liệu cho các Công ty liên doanh bao bì Hà Tiên; Nhà máy sản xuất Xi măng của tỉnh, ngoài ra một số Công ty còn tạm nhập tái xuất mặt hàng hải sản như mực đông, cá đông. Trị giá kim ngạch nhập khẩu chỉ thể hiện trên số báo cáo của những Công ty có đăng ký hoạt động xuất nhập khẩu tại tỉnh.

c. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng: Tháng 11 (tính từ 15/10 - 15/11/2014) giảm 0,24% so tháng trước, trong đó: khu vực thành thị giảm 0,28%, khu vực nông thôn giảm 0,21%. Sở dĩ chỉ số giá tiêu dùng tháng này giảm chủ yếu từ nhóm giao thông giảm mạnh nhất -2,28% (do giảm giá xăng dầu 3 lần, giảm 2.220đ/lít tương đương -9,24%) và nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm -1,46% (do giá gas giảm 40.000đ/bình 12kg và giá dầu hỏa giảm 820 đ/lít tương đương -3,92%). Các nhóm còn lại tăng nhẹ từ 0,28% đến 0,01%, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11% (bao gồm: hàng lương thực tăng 0,72%, thực phẩm tăng 0,05% và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,47%)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 so với tháng 12/2013 (sau 11 tháng) tăng 2,41%, đây là mức tăng thấp nhất trong 12 năm qua, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất là 8,49%; kế đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,21%..

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 so với tháng 11/2013 (sau 1 năm) tăng 3,07%, trong đó tăng cao nhất là nhóm giáo dục tăng 8,51%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân cùng kỳ tăng 4,31%

Chỉ số giá vàng: Tháng 11  so tháng trước giảm 2,12% (giảm 133.000đ/chỉ), bình quân giá bán trong tháng là 3.057.000đ/chỉ. Chỉ số giá vàng sau 11 tháng giảm 4,2% và sau một năm giảm 7,93%.

Chỉ số giá Đô la Mỹ: Trong tháng 11 tăng 0,26% so với tháng trước. Tính đến thời điểm điều tra 15/11/2014,tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển giá bán ra là 21.345đ/USD (tăng 80 đ/USD so tháng trước), thị trường tự do bán 21.400đ/USD (tăng 180đ/USD so tháng trước). Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 11 so với tháng 12/2013 tăng 0,46% và sau một năm tăng 0,65%.

d. Vận tải: Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trong tháng 11 tường đối ổn định so tháng trước. Giá cước vận tải hiện vẫn chưa thay đổi sau 9 đợt giảm giá xăng, dầu.

Vận tải hành khách: Tháng 11 ước tính 4,7 triệu lượt khách, tăng 1,94% so tháng trước và tăng 3,75% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 223,4 triệu HK.km, tăng 2,02% so tháng trước và giảm 3,94% so với cùng kỳ.

Tính chung 11 tháng được 53,5 triệu lượt khách, đạt 93,08% kế hoạch và tăng 8,81% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 2.957 triệu HK.km, đạt 93,81% kế hoạch và tăng 10,16% so cùng kỳ. Bao gồm: Vận tải hành khách đường bộ được 43 triệu lượt khách, tăng 8,96% so cùng kỳ và luân chuyển 2.343,1 triệu lượt khách.km, tăng 9,88%; vận tải hàng khách đường sông 8,8 triệu lượt khách, tăng 8,34% và luân chuyển 461,2 triệu lượt khách.km, tăng 11,36%; vận tải đường biển 1,5 triệu lượt khách, tăng 7,14% và luân chuyển 152,6 triệu lượt khách.km, tăng 10,97% so cùng kỳ năm trước.

          Vận tải hàng hóa: Tháng 11 ước tính được 680 ngàn tấn, tăng 1,64% so tháng trước và tăng 6,08% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 92,6 triệu tấn.km, tăng 1,68% so tháng trước và tăng 6,46% so cùng kỳ.

            Tính chung 11 tháng vận tải hàng hóa được 7,8 triệu tấn, đạt 93,36% kế hoạch và tăng 6,71%  so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 1.062 triệu tấn.km, đạt 92,36% kế hoạch và tăng 6,65% so cùng kỳ. Bao gồm: Vận tải hàng hóa đường bộ đạt 2,3 triệu tấn, tăng 7,51% so cùng kỳ năm trước và luân chuyển 332,8 triệu tấn.km, tăng 7,62%; vận tải hàng hóa đường sông: 3,2 triệu tấn, tăng 5,88% và luân chuyển 402,5 triệu tấn.km, tăng 5,57%; vận tải hàng hóa đường biển: 2,2 triệu tấn, tăng 7,07%  và luân chuyển 327 triệu tấn.km, tăng 7% so cùng kỳ.

          e. Du lịch:. Tổng lượt khách du lịch trên địa bàn tỉnh trong tháng 11 ước tính được 201,2 ngàn lượt khách, bằng 99,92% so tháng trước và tăng 24,24% so cùng kỳ năm trước, trong đó: lượt khách đến các cơ sở lưu trú du lịch đạt 113,8 ngàn lượt khách, tăng 9,04% so với tháng trước. Trong số lượt khách đến các cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: khách cơ sở lưu trú du lịch phục vụ đạt 105,4 ngàn lượt khách, tăng 7,38% và khách du lịch đi theo tour đạt 8,3 ngàn lượt khách, tăng 35,16% so tháng trước.

          Tính từ đầu năm đến nay tổng số khách du lịch ước tính 3,380 triệu lượt khách, đạt 81,46% kế hoạch năm và bằng 99,33% so cùng kỳ năm trước, trong đó: lượt khách đến các cơ sở lưu trú du lịch được 1,477 triệu lượt người, vượt 13,64% kế hoạch, tăng 34,05% so với cùng kỳ năm trước. Khách đến các cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: khách do cơ sở lưu trú du lịch phục vụ là 1,356 triệu lượt người, vượt 16,43% kế hoạch năm tăng 34,46% so cùng kỳ năm trước và khách du lịch đi theo tour được 120,9 ngàn lượt khách, đạt 86,59% kế hoạch và tăng 29,55% so cùng kỳ năm 2013. Số khách du lịch đến tỉnh trong tháng tăng cao, chủ yếu khách đến Phú Quốc tham quan và tham dự vòng thi chung kết hoa hậu Việt Nam 2014 tỉnh Kiên Giang đăng cai tổ chức tại khu du lịch Vinpearl trên đảo Phú Quốc vào cuối tháng 11 đầu tháng 12/2014.

 

6. Một số tình hình xã hội:

6.1 Giải quyết việc làm và đào tạo nghề: Trong tháng giải quyết việc làm cho 3.635 lượt người. Trong tỉnh 1.426 lượt người, ngoài tỉnh 2.192 lượt người, xuất khẩu lao động 17 người. Tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm đến nay lên 31.687 lượt người, đạt 96% so với kế hoạch (trong đó lao động trong tỉnh: 14.245 lượt người, ngoài tỉnh 17.373 lượt người, xuất khẩu 69 người ).

Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 346 người lao động, nâng tổng số từ đầu năm đến nay 4.501 người

    Khai giảng 10 lớp dạy nghề công nghiệp với số lượng 350 người tại huyện Gò Quao theo đơn đặt hàng của công ty May Nhà Bè; Các cơ sở đã tổ chức dạy nghề cho: 9.081 người (Trong đó: Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng: 2.081 người, truyền nghề tại doanh nghiệp: 7.000 người), nâng tổng số lao động qua đào tạo nghề từ đầu năm đến nay lên 34.334 người, đạt 137% so với kế hoạch, trong đó: Cao đẳng nghề 537 người, trung cấp nghề 798 người, sơ cấp nghề 6.970 người, dạy nghề dưới 03 tháng 26.029 người.

6.2  Về giáo dục, đào tạo: Sở GD-ĐT tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; đẩy mạnh cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; tổ chức tọa đàm kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch HCM; tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 32 năm ngày Nhà giáo Việt Nam. Cụ thể:  Giáo dục Mầm non phối hợp với Ban ATGT tổ chức hội thi “An toàn giao thông” cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi cấp tỉnh”; Thẩm định kết quả hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ  5 tuổi ở cấp huyện; đánh giá các trường mầm non mẫu giáo các huyện. Giáo dục Tiểu học: Hoàn thành đánh giá ngoài trường tiểu học; Công bố danh sách 90 trường tiểu học tham gia thí điểm dạy và học tiếng Anh; Thực hiện việc kiểm tra, công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; kiểm tra trường tiểu học Tân Thuận 3, Vĩnh Phong 3, huyện Vĩnh Thuận đạt chuẩn quốc gia năm 2014; triển khai thông tư 30 của Bộ về đánh giá học sinh tiểu học. Giáo dục Trung học: Hướng dẫn việc kiểm tra cuối học kỳ I năm học 2014-2015, kiểm tra dạy thêm học thêm trong và ngoài nhà trường; thẩm định trường THCS Ngọc Chúc và Ngọc Thuận, huyện Giồng Riềng đạt chuẩn quốc gia năm 2014; Kiểm tra tình hình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi quốc gia năm 2015; hướng dẫn các trường THPT tham gia cuộc thi “Đường đến vinh quang” do Sở GD-ĐT tỉnh Tiền Giang chủ trì tổ chức.

          6.3 Tình hình dịch bệnh:

Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng (1/10 đến 31/10/2014) trên toàn tỉnh có 50 cas mắc sốt xuất huyết, tăng 41 cas so với tháng trước. Trong đó: SXH có dấu hiệu cảnh báo 45 cas, có 5 cas sốt xuất huyết nặng. Các địa phương có số mắc cao trong tháng là TP. Rạch Giá (11 cas) và huyện Hòn đất (10 cas)..., toàn tỉnh chưa có trường hợp nào tử vong. Tính từ đầu năm đến nay tổng số ca mắc sốt xuất huyết là 398 cas, giảm 409 cas so cùng kỳ năm 2013 (giảm 50,7%).

Bệnh tay chân miệng: Trong tháng có 221 cas mắc, tăng 33 cas. Số mắc tập trung nhiều ở Hà Tiên: 43 cas, Rạch Giá: 29 cas; Hòn Đất: 28 cas..., các địa phương khác có số ca mắc rải rác. Tính từ đầu năm đến nay tổng số ca mắc tay chân miệng 1.615 cas, tăng 547 cas so cùng kỳ năm 2013.

Các bệnh truyền nhiễm khác: Số cas mắc trong tháng đa số giảm so tháng trước, trong đó: bệnh tiêu chảy mắc 527 cas, giảm 101 cas); Bệnh Thương hàn và Phó Thương hàn là 05 cas, không tăng giảm; Bệnh Lỵ trực trùng là 15 cas, giảm 22 cas; Bệnh Lỵ Amip là 7 cas, tăng 1 cas; Bệnh Thủy đậu là 7 cas, giảm 2 cas; Bệnh Quai bị là 18 cas, giảm 33 cas; Bệnh Cúm thường 330 cas, giảm 118 cas; Bệnh Đau mắt đỏ (Bệnh do Adenovirus) mắc 3 cas, giảm 9 cas; bệnh sởi 5 cas mắc, tăng 5 cas.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng, đã tiến hành lấy mẫu xét nghiệm là 275 mẫu, nâng tổng số mẫu xét nghiệm tính từ đầu năm được 1.672 mẫu, đạt 71,66% kề hoạch năm. Test nhanh 224 mẫu đạt 8,29%, nâng tổng số mẫu test nhanh tính từ đầu năm được 2.215 mẫu, đạt 82,03% KH. Khám sức khỏe cho người tiếp xúc với thực phẩm là 957 người đạt 5,41%, nâng tổng số khám sức khỏe cho người trực tiếp tiếp xúc thực phẩm là 11.717 người đạt 65,09% kế hoạch năm.

 6.4 Hoạt động Văn hóa, Thể dục thể thao: Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch trong tháng chỉ đạo các đơn vị, địa phương tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn; phối hợp với UBND huyện Gò Quao tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao, du lịch của đồng bào Khmer lần thứ VIII năm 2014; lễ hội Ok-Om-Bok; chuẩn bị tổ chức ngày thành lập Quân đội ngân dân Việt Nam và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức vòng chung kết cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2014  tại Khu du lịch Vinpearl Phú Quốc cuối tháng 11 và kết thúc vào đầu tháng 12.

Ngày hội văn hóa, thể thao, du lịch của đồng bào Khmer lần thứ VIII năm 2014 được tổ chức với hoạt động biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Khmer; có 5 môn thi đấu: đua ghe ngo (nam, nữ), kéo co, đẩy gậy, bóng đá, bóng chuyền đồng bào khmer mở rộng có 2.070 vận động viên đến từ 7 huyện, thành phố trong tỉnh và ngoài tỉnh tham dự, phục vụ 150.000 lượt người xem và cổ vũ.

6.5 Tai nạn giao thông: Theo Ban An toàn Giao thông tỉnh, trong tháng (tính từ ngày 16/10/2014 đến 15/11/2014), toàn tỉnh đã xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông đường bộ (tính cả vụ va chạm), làm 11 người chết và 21 người bị thương. So với tháng trước giảm 4 vụ, số người chết tăng 4 người và số bị thương giảm 9 người. Lũy kế đầu năm, đã xảy ra 361 vụ, làm chết 119 người và 370 người bị thương, so với cùng kỳ năm 2013 giảm 67 vụ, tăng 31 người chết và giảm 132 người bị thương.

6.6 Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 16/10 đến 15/11/2014 trên toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy tại TP Rạch Giá và U Minh Thượng, nguyên nhân do chập điện 1 vụ và đang điều tra 1 vụ, không gây thương vong về người, ước thiệt hại 42 triệu đồng. Không có vụ nổ nào xảy ra. Tính từ đầu năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 41 vụ cháy, làm 02 người chết, thiệt hại ước tính 8,547 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy tăng 4 vụ, mức độ thiệt hại về tài sản giảm 2,899 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 04 người chết và giảm 01 người bị thương.

6.7 Tình hình thiên tai: Trong tháng 11 không xảy ra thiên tai, tính từ đầu năm đến nay, ảnh hưởng từ áp thấp, bão, gây dông lốc đã làm sập và tốc mái 189 căn, ước tổng thiệt hại 2,1 tỷ đồng. Các huyện có số nhả sập tốc mái nhiều nhất là Hòn Đất (sập nhà: 12 căn, tốc mái 21 căn); huyện U Minh Thượng (sập nhà: 14 căn, tốc mái: 17 căn); huyện Tân Hiệp (sập nhà: 07 căn, tốc mái: 28 căn); huyện Châu Thành (sập nhà: 08 căn, tốc mái: 08 căn), Vĩnh Thuận (sập nhà: 03 căn, tốc mái: 05 căn)...

Tải về- Số liệu Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2014

              - Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2014

Số lần đọc: 1062
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan