03.12.2019

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Lúa cả năm 2019 (sơ bộ): Tính đến thời điểm hiện nay diện tích gieo trồng lúa các vụ: Mùa, Đông xuân, Hè thu và Thu đông gieo trồng được 722.014 ha đạt 101,98% so với kế hoạch, giảm 0,88% (giảm 6.401ha) so với cùng kỳ, năng suất ước đạt 5,94 tấn/ha, bằng 97,74%  kế hoạch, tăng 1,32% ( tăng 0,08 tấn/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng sơ bộ là 4.285.859 tấn, đạt 99,67% so với kế hoạch tăng 0,43% (tăng 18.430 tấn) so với cùng kỳ.

Vụ lúa Thu Đông (vụ 3): Diện tích gieo trồng 78.674 ha đạt 94,79% so với kế hoạch, tăng 4,59% (tăng 3.456 ha) so với cùng kỳ[1]. Đến nay đã thu hoạch được 76.100 ha, năng suất ước đạt 5,2 tấn/ha.

Vụ Mùa (2019 - 2020): Tính đến ngày 15/11 toàn tỉnh đã gieo trồng được 62.516 ha, tập trung ở các huyện An Biên 17.432 ha, An Minh 25.763 ha,Vĩnh Thuận 9.64 ha, U Minh Thượng 7.247 ha, Gò Quao 1.640 ha và thành phố Hà Tiên 470 ha.Diện tích hiện đang bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Mùa là 1.923 ha[2], nhiễm mặn 318 ha.

Vụ Đông Xuân (2019 - 2020): Tính đến ngày 15/11 toàn tỉnh đã gieo trồng được 61.625 ha[3], Diện tích hiện đang bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Đông Xuân là 3.257 ha[4].

Cây rau màu

Diện tích  một số cây rau màu cũng được nhân dân đầu tư sản xuất như:  Dưa hấu 1.270 ha, tăng 4,96% so với cùng kỳ; Khoai lang 1.272 ha, tăng 1,76 % so với cùng kỳ; Khoai mì 425 ha, giảm 18,27 % so với cùng kỳ; Bắp 225 ha, giảm 6,25% so với cùng kỳ; Rau đậu các loại 8.580 ha, giảm 2,41% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi

Theo kết quả điều tra Thống kê chăn nuôi thời điểm 1/10/2019, tổng đàn trâu có 5.010 con, giảm 3 con so cùng kỳ (giảm 0,06%), đàn bò có 12.406 con, giảm 960 con so cùng kỳ (giảm 7,18%), đàn heo có 200.738 con, giảm 139.565 con so cùng kỳ (giảm 41,02%). Đàn heo giảm mạnh, nguyên nhân là do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn diễn biến phức tạp. Mặc dù bà con biết vào thời điểm gần tết nhu cầu về thịt heo tăng và hiện giá heo hơi tăng cao trong những tháng vừa qua, nhưng bà con vẫn chưa dám tái đàn. Trong tháng đã xảy ra 272 hộ chăn nuôi có heo mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tại 14 huyện, thành phố, với số heo tiêu hủy là 1.941 con. Lũy kế từ ngày 18/5/2019 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3.730 hộ chăn nuôi có heo mắc bệnh dịch tả heo Châu Phi tại 712 ấp, khu phố, 128 xã, phường, thị trấn, thuộc 15 huyện, thành phố; đã tiêu hủy 48.630 con heo, trọng lượng tiêu hủy là 3.015 tấn.

b. Lâm nghiệp

Tình hình chăm sóc và bảo vệ từng được ngành Kiểm lâm phối hợp tốt với chính quyền địa phương tuyen truyền giáo dục và vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát nên trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng nào. Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra 4 vụ vi phạm chặt phá lấn chiếm đất rừng (Phú Quốc 4 vụ) với diện tích thiệt hại khoảng 0,789 ha. Tính chung 11 tháng xảy ra 32 vụ chặt phá rừng, diện tích thiệt hại khoảng 4,42 ha.

c. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010) tháng Mười Một ước tính 2.221,19 tỷ đồng, giảm 11,03% so tháng trước, giảm 0,09% so cùng kỳ[5]. Tính chung 11 tháng ước đạt 28.500,18 tỷ đồng, đạt 89,62% kế hoạch, tăng 4,59% so cùng kỳ[6].

Tổng sản lượng thủy sản (cả khai thác và nuôi trồng): Tháng Mười Một ước đạt 67.489 tấn, giảm 6,97% so tháng trước (giảm 5.058 tấn), giảm 1,12% (giảm 766 tấn) so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng sản lượng ước tính 778.236 tấn, đạt 93,31% kế hoạch, tăng 3,41% so cùng kỳ. Chia ra

Sản lượng khai thác tháng Mười Một ước đạt 50.182 tấn, tăng 0,14% so tháng trước, giảm 0,83% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng sản lượng khai thác đạt 551.155 tấn, đạt 93,26% kế hoạch, tăng 2,0% so cùng kỳ (tăng 10.812 tấn). Trong đó cá các loại tăng 3,24% (tăng 13.017 tấn), Mực các loại tăng 2,06% (tăng 1.382 tấn).Riêng tôm các loại giảm 5,02% (giảm 1.693 tấn).

Sản lượng nuôi trồng tháng Mười Một ước đạt 17.307 tấn thủy sản các loại, giảm 22,37% so tháng trước (giảm 4.986 tấn), giảm 1,97% so cùng kỳ (giảm 4.986 tấn). So với tháng trước các loại cá, tôm nuôi đều giảm. Tính chung 11 tháng sản lượng nuôi trồng đạt 227.081 tấn, đạt 93,45% kế hoạch, tăng 6,98% (tăng 14.822 tấn) so cùng kỳ, sản lượng tăng so với cùng kỳ chủ yếu gồm cá các loại tăng 5,07% (tăng 3.443 tấn), tôm các loại tăng 11,87% (tăng 8.456 tấn), trong đó tôm thẻ chân trắng tăng 19,49% (tăng 4.563 tấn).

Sản lượng nuôi trồng tháng này giảm so với tháng trước là do chưa vào vụ thu hoạch, thường theo tập quán thì phải đến cận tết nguyên đán tức vào khoảng cuối tháng 12 năm 2019 bà con mới tập trung thu hoạch nên sản lượng thu hoạch giảm. Riêng tôm sú giảm mạnh là do diện tích nuôi tôm - lúa nông dân đang gieo trồng lúa vụ mùa nên chưa có sản lượng thu hoạch.

Tính đến ngày 15/11/2019, tổng diện tích tôm nước lợ thả nuôi được 127.876 ha, đạt 103,96% kế hoạch, tăng 3,44% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp 2.850 ha, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến 28.645 ha và nuôi tôm - lúa 96.381 ha.

2. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Tháng Mười Một, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 2,05% so tháng trước, tăng 11,44% so cùng tháng năm trước. Trong đó, so với tháng trước, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,06%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 1,77%... Tính chung 11 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,85% so cùng kỳ. Trong đó ngành khai khoáng tăng 14,46%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,65%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,23%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 9,89%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng Mười Một ước đạt 4.386,19 tỷ đồng, tăng 2,06% so tháng trước, tăng 11,58% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng ước đạt 43.384,93 tỷ đồng, đạt 91,76% kế hoạch, tăng 10,50% so cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 42.131,80 tỷ đồng, chiếm 97,11% trên tổng giá trị SX toàn ngành, đạt 92,28% kế hoạch, tăng 9,23%.

Tính chung 11 tháng, các sản phẩm chủ yếu tăng khá so cùng kỳ năm trước như: Tôm đông lạnh tăng 16,82%; Mực đông lạnh tăng 8,41%; Xi măng Nhà nước tăng 6,95%; Sản phẩm giày da tăng 25,69%; Gỗ MDF tăng 13,95%... tuy nhiên còn một số sản phẩm giảm như: bột cá các loại giảm 9,16%; xay xát gạo giảm 2,60%; Bao bì 11,36%....

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Mười Một bằng 90,59% so với tháng trước. Trong đó, ngành sản xuất trang phục tăng 17,14%; ngành sản xuất đồ uống tăng 7,47%. Nhưng ngành chế biến thực phẩm chỉ bằng  94,26%; ngành sản xuất Xi măng bằng 93,10%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ bằng 99,65%...

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Mười Một tăng 98,37% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với tháng trước như ngành sản xuất Xi măng tăng 35,26%, chế biến thực phẩm tăng 22,34% ...

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/11/2019 tăng 32,94% so với cùng thời điểm này năm trước, trong đó lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 37,07%; ngành khai khoáng tăng 8,81%.

3. Vốn đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười Một ước đạt 151,61 tỷ đồng, tăng 72,06% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ước đạt 2.798,46 tỷ đồng (theo số giải ngân Kho bạc đến 15/10/2019), đạt 50,13% kế hoạch, tăng 3,99% so cùng kỳ. Trong đó vốn cân đối ngân sách địa phương đạt 1.169,32 tỷ đồng, đạt 55,16% kế hoạch, giảm 8,85% so cùng kỳ, vốn TW hỗ trợ có mục tiêu đạt 764,29 tỷ đồng, đạt 67,37% kế hoạch, tăng 2,79% so cùng kỳ.

4. Thu, chi ngân sách

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Mười Một ước đạt 1.551,67 tỷ đồng, tăng  57,16% so tháng trước, tăng 54,74% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng tổng thu ngân sách ước đạt 10.820,20 tỷ đồng, đạt 103,64% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 14,73% so cùng kỳ. Trong đó: một số nguồn thu đạt cao như thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 1.230,40 tỷ đồng, đạt 232,15% dự toán, tăng 78,35% so cùng kỳ; thu thuế bảo vệ môi trường 622,90 tỷ đồng, đạt 103,82% dự toán, tăng 109,30% so cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết 1.430,70 tỷ đồng, đạt 105,98% dự toán, tăng 5,86% so cùng kỳ...Tuy nhiên, cũng còn một số khoản thu đạt thấp như thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 83,36% dự toán; Lệ phí trước bạ đạt 70,92% dự toán, bằng 87,08% cùng kỳ; thu phí và lệ phí đạt 79,97%, bằng 99,27% cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng Mười Một ước chi 1.664,62 tỷ đồng, tăng 54,08% so tháng trước, tăng 100,14% so cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển 824,09 tỷ đồng, tăng 103,32% so tháng trước, tăng 282,07% so cùng kỳ; chi thường xuyên 840,53 tỷ đồng, tăng 24,71% so tháng trước, tăng 36,44% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng tổng chi ngân sách địa phương là 11.164,08 tỷ đồng, đạt 74,03% dự toán, tăng 9,69% so cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển 3.698,20 tỷ đồng, đạt 66,25% dự toán, tăng 13,90% so cùng kỳ; chi thường xuyên 7.464,84 tỷ đồng, đạt 84,0% dự toán, tăng 7,71% so cùng kỳ.

5. Ngân hàng

Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong tháng 11 duy trì ổn định. So với tháng trước và đầu năm, hoạt động tín dụng và huy động vốn tiếp tục tăng. Tổng nguồn vốn hoạt động tháng 11 đạt 92.200 tỷ đồng, tăng 0,52% so với tháng trước và tăng 10,4% so với đầu năm. Trong đó, vốn huy động tại địa phương ước đạt 49.100 tỷ đồng (chiếm 53,25% tổng nguồn vốn hoạt động), tăng 0,31% so với tháng trước và tăng 6,91% so với đầu năm.

Doanh số cho vay trong tháng 11 ước đạt 12.000 tỷ đồng. Dư nợ cho vay ước đạt 77.000 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 12,22% so với đầu năm. Dư nợ xấu ước 800 tỷ đồng, chiếm 1,04%/tổng dư nợ.

Hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng trên địa bàn khá ổn định, tỷ giá vàng và ngoại tệ diễn biến theo xu hướng chung của cả nước và thế giới. Tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, các ngân hàng đã thực hiện cho vay với mức lãi suất hợp lý, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại nợ, gia hạn nợ cho doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân.

6. Thương mại - dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng Mười Một ước đạt 9.181,70 tỷ đồng, tăng 1,69% so tháng trước, tăng 11,89% so cùng tháng năm trước. Tính chung 11 tháng ước thực hiện 97.931,37 tỷ đồng, đạt 90,51% kế hoạch, tăng 10,15% so cùng kỳ. Chia theo ngành hoạt động

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Mười Một ước đạt 6.654,97 tỷ đồng, tăng 2,98% so tháng trước, tăng 10,97% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng ước đạt 71.861,42 tỷ đồng, đạt 90,96% kế hoạch, tăng 10,25% so cùng kỳ. Trong đó tăng cao nhất là nhóm hàng vật liệu xây dựng tăng 10,78%; nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,25% và nhóm ngành hàng may mặc, giày dép tăng 10,31%, vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 9,03%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Mười Một ước đạt 1.425,44 tỷ đồng, giảm 2,72% so tháng trước, tăng 16,61% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính 14.386,16 tỷ đồng, đạt 92,81% kế hoạch, tăng 10,58% so cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng Mười Một đạt 33,54 tỷ đồng, tăng 4,65% so tháng trước, tăng 3,72% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng ước tính 411,99 tỷ đồng, đạt 82,40% kế hoạch, tăng 10,31% so cùng kỳ.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng Mười Một ước đạt 1.067,75 tỷ đồng, giảm 0,13% so tháng trước, tăng 11,90% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng ước được 11.271,80 tỷ đồng, đạt 85,39% kế hoạch, tăng 8,99% so cùng kỳ.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Một ước đạt 72,26 triệu USD, tăng 7,42% so với tháng trước, tăng 15,87% so cùng kỳ. Trong đó hàng nông sản tăng 4,55% so tháng trước, tăng 69,20% so cùng kỳ; hàng thủy hải sản tăng 20,40% so tháng trước, giảm 2,0% so cùng kỳ; Nguyên liệu giày da tăng 2,67% so tháng trước, giảm 38,06% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng kim ngạch xuất khẩu ước tính 616,39 triệu USD, đạt 90,65% kế hoạch, tăng 5,36% so cùng kỳ. Trong đó hàng thủy hải sản đạt 87,39% kế hoạch, bằng  99,49% so cùng kỳ; nguyên liệu Giày da đạt 83,22% kế hoạch, bằng 99,56% so cùng kỳ; hàng nông sản đạt 75,58% kế hoạch, bằng 87,94% so cùng kỳ; Riêng hang rau quả đạt 97,01% kế hoạch, tăng 11,69% so cùng kỳ.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười Một ước đạt 11,78 triệu USD, tăng 0,94% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng ước đạt 121,53 triệu USD, đạt 202,56% kế hoạch, bằng 99,62% so với cùng kỳ.

c. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười một tăng 1,28% so với tháng trước; tăng 6,08% so với tháng mười một năm 2018. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 7 nhóm hàng tăng so với tháng trước. Trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất tăng 3,31%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt  và vật liệu xây dựng tăng 0,54%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,25%; nhóm thiết bị và đồ dung gia đình tăng 0,18%; nhóm may mặc giày dép và mũ nón tăng 0,13%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07%; kế đến là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%. Còn lại các nhóm hàng khác không tăng hoặc giảm nhẹ, dẫn đến chỉ số giá tháng mười một tăng 1,28% so với tháng trước.

Chỉ số giá vàng: tháng Mười một giảm 0,65% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,81% và tăng 9,23% so với bình quân cùng kỳ. Giá vàng bình quân tháng 11 năm 2019 là 4.151.000 đồng/chỉ, giảm 27.000 đồng/chỉ so với tháng trước.

Chỉ số giá Đô la Mỹ: tháng Mười một giảm 0,01% so tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,81% và tăng 0,83% so với bình quân cùng kỳ. Giá USD bình quân tháng 11 năm 2019 là 2.326.100 đồng/100 USD, giảm 300 đồng/100 USD so với tháng trước.

d. Vận tải

Vận tải hành khách tháng Mười Một ước đạt 8,58 triệu lượt khách, tăng 0,44% so tháng trước, tăng 5,67% so cùng kỳ; luân chuyển 358,47 triệu HK.km, tăng 0,64% so tháng trước, tăng 6,13% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng vận tải hành khách ước đạt 84,31 triệu lượt khách, đạt 90,47% kế hoạch, tăng 9,54% so cùng kỳ; luân chuyển 5.169,41 triệu HK.km, đạt 94,16% kế hoạch, tăng 11,07% so cùng kỳ. Trong đó so với cùng kỳ vận tải hành khách đường biển tăng 19,86%; Vận tải hành khách đường bộ tăng 8,57%.

Vận tải hàng hóa tháng Mười Một ước đạt 1.22 ngàn tấn, tăng 1,08% so tháng trước, bằng 98,71% so cùng kỳ; luân chuyển 162,99 triệu tấn.km, tăng 1,62% so tháng trước, bằng 96,85% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng vận tải hàng hóa ước đạt 11,85 triệu tấn, đạt 91,98% kế hoạch, tăng 10,82% so cùng kỳ; luân chuyển 1.591,03 triệu tấn.km, đạt 87,77% kế hoạch, tăng 9,48%. Trong đó vận tải hàng hóa đường biển tăng 12,04% so cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đường bộ tăng 11,86% so cùng kỳ.

e. Du lịch

Tổng lượt khách du lịch tháng Mười Một ước đạt 556,20 ngàn lượt khách, giảm 14,4% so tháng trước, tăng 13,20% so cùng kỳ. Trong đó lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 334,82 ngàn lượt khách, giảm 5,64% so tháng trước, tăng 9,06% so cùng kỳ. (Số khách quốc tế đạt 48,37 ngàn lượt khách, tăng 9,52% so tháng trước, tăng 26,16% so cùng kỳ). Khách đến cơ sở lưu trú du lịch phục vụ giảm 7,91% so tháng trước, tăng 9,05% so cùng kỳ và khách du lịch đi theo tour tăng 24,54%, tăng 9,15%.

Tính chung 11 tháng, tổng lượt khách du lịch ước đạt 8.107,78 ngàn lượt khách, đạt 97,68% kế hoạch, tăng 12,58% so cùng kỳ. Trong đó: Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 97,89% kế hoạch, tăng 16,21% so cùng kỳ; khách quốc tế đạt 102,12% kế hoạch, tăng 20,66% so cùng kỳ; Lượt khách du lịch đi theo tour đạt 129,82% kế hoạch, tăng 60,58% so cùng kỳ.

7. Một số tình hình xã hội

7.1 Giải quyết việc làm, đào tạo nghề

Tháng Mười Một giải quyết việc làm được 2.032 lượt lao động (trong tỉnh 1.311 lao động, ngoài tỉnh 7.15 lao động, xuất khẩu lao động 6 lao động). Tính chung 11 tháng đã giải quyết việc làm được 33.634 lượt người, đạt 96,10% kế hoạch (trong tỉnh 16.213 lao động, ngoài tỉnh 17.312 lao động, xuất khẩu lao động 109). Đã tổ chức 02 ngày hội việc làm tại huyện Phú Quốc và huyện Giồng Riềng. Trong tháng số lao động được tư vấn giới thiệu việc làm 1.875 lượt lao động; giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 768 lao động (luỹ kế  đến nay 9.136).

Tính đến ngày 15 tháng 11 năm 2019 toàn tỉnh đã tuyển mới và đào tạo cho 30.977 người, đạt 98,56% so kế hoạch.

7.2 Giáo dục

Tổ chức kiểm tra thực hiện chuyên đề “Tăng cường giáo dục phát triển vận động” và chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” và kiểm tra công tác quản lý, chỉ đạo các cơ sở GDMN tổ chức bán trú, chăm sóc, theo dõi sức khỏe cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non.

Tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả một năm áp dụng phần mềm “Xây dựng thực đơn cân bằng dinh dưỡng” dành cho các trường tiểu học bán trú để chia sẻ kinh nghiệm và tập huấn chuyên sâu về bữa ăn học đường. Lập kế hoạch đánh giá ngoài và thẩm định trường đạt chuẩn Quốc gia tại 04 trường tiểu học trên địa bàn tỉnh. Xúc tiến lộ trình xây dựng trường Chuẩn quốc gia năm học 2019-2020 và tham dự đánh giá, thẩm định trường chuẩn Quốc gia theo kế hoạch. Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia lớp 12 THPT.

7.3 Tình hình y tế

Trong tháng, các cơ sở y tế đã khám, điều trị bệnh cho 412.025 lượt người, điều trị nội trú 26.439 bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh chung 99,56%, Tỷ lệ khỏi bệnh 86,63%, tỷ lệ tử vong 0,11%. Số lượt khám chữa bệnh bằng YHCT hoặc kết hợp YHHĐ và YHCT là 59.669 lượt, chiếm 14,48% tổng số lượt khám chữa bệnh trong tháng.

Tình hình dịch bệnh trong tháng (từ ngày 09/10/2019 – 09/11/2019): Trong tháng, bệnh Sốt xuất huyết có xu hướng giảm[7], tuy nhiên một số huyện vẫn còn mắc cao như: Tp Rạch Giá, Tp Hà Tiên, Hòn Đất, Phú Quốc; Bệnh Tay chân miệng tăng cao so với tháng trước[8]. Ngành Y tế đã tập trung chỉ đạo và tăng cường giám sát để khống chế các ổ dịch không để dịch lớn xảy ra.Thường xuyên tuyên truyền đến người dân về phòng, chống bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng và các bệnh nguy hiểm khác. Phòng chống HIV/AIDS trong tháng thực hiện xét nghiệm 5.407 mẫu máu, phát hiện mới 23 cas HIV dương tính[9].

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: Thực hiện thanh, kiểm tra 3.898 cơ sở, có 3.323 cơ sở đảm bảo VSATTP theo quy định. Đã xử phạt vi phạm hành chính 08 cơ sở với số tiền 15 triệu đồng, nhắc nhở và hướng dẫn 518 cơ sở còn có những hạn chế trong đảm bảo VSATTP nhưng chưa đến mức phải xử phạt vi phạm hành chính. Đã tiêu hủy 53 loại sản phẩm của 49 cơ sở với khối lượng 279 kg thực phẩm không có nhãn, không rõ nguồn gốc, chứa hóa chất ngoài danh mục của Bộ Y tế.

Toàn tỉnh ghi nhận 20 cas ngộ độc thực phẩm do tác dụng độc của cồn.

7.4 Hoạt động Văn hóa, Thể dục thể thao

Hoạt động Văn hóa, tổ chức tuyên truyền kỷ niệm hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (09/11), kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11), kỷ niệm Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11), hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới, Ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (25/11), hưởng ứng Tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2019. Tổ chức thành công Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang, lần thứ XIII năm 2019 tại huyện Gò Quao; chỉ đạo tổ chức thành công Lễ hội Nghinh Ông Kiên Hải năm 2019.

Hoạt động Thể dục thể thao

Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang, lần thứ XIII năm 2019[10]. Tổ chức Hội thao các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp tỉnh Kiên Giang lần thứ V năm 2019 (từ ngày 22/11 - 25/11/2019).

Thể thao thành tích cao: Các đội tuyển thể thao duy trì tập luyện thường xuyên theo kế hoạch và tham dự 05 giải thể thao khu vực, toàn quốc.[11] Tham gia cùng Đoàn nghiên cứu, khảo sát và học tập công tác tổ chức, huấn luyện đào tạo vận động viên tại Sea Games 30 tại Philippines.

7.5 Tai nạn giao thông

Tính từ ngày 15/10/2019 đến 14/11/2019 trên toàn tỉnh xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông, làm 9 người chết, 9 người bị thương, trong đó số vụ tai nạn nghiêm trọng 9 vụ, làm 9 người chết, 3 người bị thương. So với tháng trước số vụ TNGT tăng 4 vụ, số người chết tăng 2 người, số người bị thương giảm 4 người. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 127 vụ tai nạn giao thông, làm 78 người chết, 86 người bị thương, trong đó số vụ tai nạn nghiêm trọng là 76 vụ, làm 70 người chết và 32 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, giảm 39 vụ, giảm 42 người chết và giảm 14 người bị thương, giảm sâu cả 3 tiêu chí là số vụ, số người chết và số người bị thương.

7.6 Tình hình cháy, nổ và thiên tai

Tình hình cháy nổ: Từ ngày 16/10/2019 đến 15/11/2019 toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, không có vụ nổ, không thiệt hại về người, ước thiệt hại vật chất khoảng 320 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 21 vụ cháy, 01 vụ nổ làm 03 người chết, 03 người bị thương. Thiệt hại ước tính 25 tỷ 965 triệu đồng.

Tình hình thiên tai: Từ ngày 16/10 đến 15/11/2019 trên địa bàn tỉnh không thiên tai xảy ra.

Tính từ đầu năm đến nay, thiên tai xảy ra đã làm sập 128 căn nhà, tốc mái 247 căn nhà, ngập 12.298 căn nhà; sạt lở 400m đê chắn sóng, sạt lở 110m đường; chìm 01 động cơ và 101 tàu thuyền nhỏ, xuồng đò đang neo đậu tại bờ, hư hỏng 02 phương tiện, mất tích 02 phương tiện; hư hại 01 cống, gãy hỏng 04 cầu, cuốn trôi 01 cầu; thiệt hại 11,12 ha hoa màu; làm chết, cuốn trôi 3.175 các loại gia súc, gia cầm; 97,6km tuyến đường bị ngập dưới 1m; hư hỏng 01 lồng bè nuôi cá, 01 bè bán tạp hóa trên biển, tràn 02 ao cá; đổ ngã 07 trụ điện; sạt lở 10m giao thông nông thôn và sập hoàn toàn 02 cầu gỗ trên địa bàn huyện Phú Quốc và Kiên Hải. Ước tổng giá trị thiệt hại về vật chất khoảng 185 tỷ 384 triệu đồng./.

 


[1] Lúa Thu Đông (vụ 3) tập trung ở các huyện Giổng Riềng 25.616 ha, Tân Hiệp 29.877 ha, Châu Thành 6.139 ha, Hòn Đất 4.636 ha, Gò Quao 296 ha, Giang Thành 11.200 ha và TP Rạch Giá 910 ha.

[2] Sâu bệnh trên lúa mùa chủ yếu gồm: Lem lép hạt 56 ha, cháy bìa lá 55 ha, đạo lá 1.197 ha, rầy nâu 65 ha, sâu cuốn lá 129 ha.

[3] Lúa Đông Xuân (2019 – 2020) đã gieo trồng ở các huyện Hòn Đất 2.000 ha, Tân Hiệp 3.000 ha, Châu Thành 2.534 ha, Giồng Riềng 7.157 ha, Gò Quao 11.411 ha, An Biên 8.323 ha, An Minh 100 ha, Vĩnh Thuận 4.770 ha, U Minh Thượng 7.230 ha, Giang Thành 15.000 ha và TP Rạch Giá 100 ha,

[4] Các đối tượng gây hại trên lúa Đông Xuân chủ yếu: cháy bìa lá 449 ha, đạo ôn lá 2.121 ha, rầy nâu 125 ha, sâu cuốn  lá 261 ha, OBV 171 ha.

[5] Chia ra: Giá trị khai thác tăng 0,07% so tháng trước, giảm 0,44% so cùng kỳ; giá trị nuôi trồng giảm 23,61% so tháng trước, tăng 0,43% so cùng kỳ.

[6] Chia ra: Giá trị khai thác 14.488,10 tỷ đồng, đạt 86,76% kế hoạch, tăng 1,52%; giá trị nuôi trồng 14.012,08 tỷ đồng, đạt 92,80% kế hoạch, tăng 7,98%.

[7] Sốt xuất huyết có 249 cas mắc (giảm 124 cas so với tháng trước).Trong đó Sốt xuất huyết Dengue nặng 15 ca, tử vong 0. Lũy kế là 2.821 cas, tăng 1.099 cas so cùng kỳ( năm 2018 là1.722 cas).

[8] Tay chân miệng có 562 cas mắc (tăng 31 cas so với tháng trước), tử vong 0. Lũy kế có 2.419 cas mắc, tăng 731 cas so với cùng kỳ (năm 2018 là1.688 cas).

[9] Số bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV mới là 30 BN (tích lũy: 2.026 BN, trong đó người lớn có 1.929 người; trẻ em dưới 15 tuổi có 27 người)

[10]Gồm các giải: Giải Bóng chuyền bãi biển nữ tỉnh Kiên Giang mở rộng năm 2019 (từ ngày 09/11 - 11/11/2019, thu hút 7.500 lượt người xem và cổ vũ); Giải Đua ghe ngo nam và nam - nữ phối hợp tỉnh Kiên Giang năm 2019 (từ ngày 11/11 - 12/11/2019, thu hút gần 200.000 lượt người xe, và cổ vũ).

[11] Giải Quần vợt Cúp Cao nguyên đá Hà Giang, Giải Vô địch Boxing trẻ Cần Thơ mở rộng, Giải Đua thuyền Cúp Canoeing toàn quốc tại Vĩnh Phúc, Giải Bóng chuyền bãi biển nữ tỉnh Kiên Giang mở rộng, Giải Vô địch Cờ vua đấu thủ mạnh toàn quốc tại Quảng Ninh; kết quả: đạt 09 huy chương các loại (03 HCV, 05 HCB và 01 HCĐ).

Tải về: - Số liệu Kinh tế xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2019 của tỉnh Kiên Giang

            - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2019 của tỉnh Kiên Giang

Số lần đọc: 430
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan