31.01.2020

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Vụ Mùa (2019 - 2020): Diện tích gieo trồng được 62.610 ha[1], đạt 94,86 % so với kế hoạch, giảm 2,29% (giảm 1.975 ha) so với cùng kỳ. Đến nay đã thu hoạch được 58.263 ha, năng suất ước đạt 5,00 tấn/ha.

Diện tích hiện bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Mùa là 2.609 ha, các đối tượng gây hại chủ yếu gồm lem lét hạt 1.233 ha, cháy bìa lá 199 ha, đạo ôn lá 40 ha, rầy nâu 45 ha, nhiễm mặn 467 ha.

Vụ Đông Xuân (2019 - 2020): Tính đến ngày 15/1/2020 toàn tỉnh đã gieo trồng được 289.026 ha[2], đạt 100,01% kế hoạch. Đến nay đã thu hoạch được 13.519 ha, năng suất ước đạt 5,62 tấn/ha.

Diện tích  bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Đông xuân là 26.241 ha, các đối tượng gây hại chủ yếu như bệnh Cháy bìa lá 777 ha, đạo ôn lá 15.790 ha, Rầy nâu 2.921 ha, Rầy phấn trắng 1.787 ha, sâu cuốn lá 2.210 ha, lem lét hạt 1.066 ha, bị nhiễm mặn 207 ha.

Cây rau màu

Diện tích  một số cây rau màu vụ đông xuân cũng được nhân dân đầu tư sản xuất như:  Dưa hấu 375 ha, tăng 7,14% so với cùng kỳ; Khoai lang 276 ha, tăng 8,24%; Khoai mì 45 ha, giảm 10%; Bắp 60 ha, giảm 9,09%; Rau đậu các loại 1.870 ha, tăng 2,75% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi

Tình hình Dịch tả lợn Châu Phi hiện nay trong tỉnh ta cũng giảm đáng kể, số xã, thị trấn qua 30 ngày không phát sinh và chưa có dịch tái phát, cơ bản đảm bảo các yêu cầu về an toàn chăn nuôi để tái đàn. Tuy nhiên, các ngành chức năng tập trung hướng dẫn các cơ sở và người chăn nuôi áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp tổng cách ly, thực hiện tốt khâu vệ sinh tiêu độc, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, tăng cường các biện pháp phòng bệnh để bảo vệ đàn heo. Tính từ ngày 18/5/2019 đến ngày 15/1/2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3.805 hộ chăn nuôi có heo mắc bệnh Dịch tả heo Châu Phi tại 712 ấp, khu phố, 129 xã, phường, thị trấn, thuộc 15 huyện, thành phố; đã tiêu hủy 48.970 con heo.

b. Lâm nghiệp

Hiện nay thời tiết đang bước vào mùa khô, nên dễ xảy ra cháy rừng, ngành Kiểm lâm phối hợp tốt với chính quyền địa phương tuyên truyền giáo dục và vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát. Trong tháng xảy ra 3 vụ vi phạm chặt phá lấn chiếm đất rừng (Phú Quốc 3 vụ) với diện tích thiệt hại khoảng 0,021 ha, giảm 01 vụ so với cùng kỳ.

c. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010) tháng Một ước tính 2.039,07 tỷ đồng, giảm 9,13% so tháng trước, tăng 5,35% so cùng kỳ[3].

Tổng sản lượng thủy sản (cả khai thác và nuôi trồng): Tháng Một ước đạt 58.581 tấn, giảm 14,39% so tháng trước (giảm 9.847 tấn), giảm 3,48% (giảm 2.115 tấn) so cùng kỳ. Chia ra

Sản lượng khai thác ước đạt 45.580 tấn, giảm 8,95% so tháng trước (giảm 4.478 tấn), giảm 8,19% so cùng kỳ (giảm 4.066 tấn). Sản lượng nuôi trồng ước đạt 13.001 tấn thủy sản các loại, giảm 29,23% so tháng trước (giảm 5.369 tấn), tăng 17,66% so cùng kỳ (tăng 1.951 tấn) là do người dân thu hoạch bán Tết và chuẩn bị thả nuôi mùa vụ mới 2020.

2. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Tháng Một, bằng 85,17% so tháng trước, giảm 4,42% so cùng tháng năm trước. Trong đó, so với tháng trước, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 84,20%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 0,75%...

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng Một ước đạt 4.138,74 tỷ đồng, bằng 86,45% so tháng trước, giảm 14,03% so tháng trước, giảm 4,40% so cùng kỳ, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 4.011 tỷ đồng, chiếm 96,91%/tổng số, giảm 4,50%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 5,44%; ngành khai khoáng giảm 14,56%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 5,02%.

Hầu hết sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng Một đều giảm so với tháng trước cũng như so cùng kỳ là do tháng 1/2020 vào dịp nghĩ tết nguyên đán Canh tý từ 7 đến 10 ngày, nên các doanh nghiệp cũng ngưng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng, vì vậy đa số sản phẩm chủ yếu đều giảm. Riêng mặt hàng Giày da tăng 32,66% so cùng tháng năm trước.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Một bằng 79,31% so với tháng 12/2019. Trong đó, ngành sản xuất trang phục bằng 82,25%; ngành sản xuất đồ uống bằng 75,23%; ngành chế biến thực phẩm bằng  75,38%; ngành sản xuất Xi măng bằng 84,66%...

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Một tăng 9,01% so với tháng 12/2019. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với tháng trước như ngành sản xuất Xi măng tăng 27,79%, chế biến thực phẩm tăng 22,67% ...

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/1/2020 tăng 38,16% so với cùng thời điểm này năm trước, trong đó lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 43,71%; ngành khai khoáng tăng 6,79%.

3. Vốn đầu tư thực hiện (Vốn ngân sách nhà nước)

Trong tháng, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý chủ yếu là giải ngân vốn cho khối lượng thực hiện đã hoàn thành của năm 2019 nên tháng Một ước tính giá trị đạt 20,58 tỷ đồng, chỉ bằng 7,59% so tháng trước, tăng 6,40% so cùng tháng năm trước. Trong đó chủ yếu là vốn cân đối ngân sách địa phương.

4. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Một ước đạt 1.195 tỷ đồng, tăng 44,33% so tháng trước, bằng 79,01% so cùng kỳ. Trong đó thu nội địa 1.180 tỷ đồng, tăng 42,52% so với tháng 12/2019.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng Một ước chi 1.100,89 tỷ đồng, chỉ bằng 32% so tháng 12/2019, tăng 2,40% so cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển 303 tỷ đồng, chỉ bằng 19,51% so tháng 12/2019, tăng 55,24% so cùng kỳ; chi thường xuyên 797,89 tỷ đồng, bằng 42,27% tháng trước, giảm 9,32% so cùng kỳ.

5. Ngân hàng

Hoạt động tín dụng, huy động vốn trên địa bàn tỉnh tháng 01/2020 ổn định, diễn biến phù hợp tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trước tết Nguyên đán (tín dụng tăng, huy động vốn giảm nhẹ). Ước đến 31/01/2020, một số chỉ tiêu đạt như sau: Tổng nguồn vốn hoạt động ước đạt 96.400 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng 12/2019. Trong đó: Vốn huy động tại địa phương ước đạt 50.400 tỷ đồng (chiếm 52,28% tổng nguồn vốn hoạt động), giảm 0,23% so với tháng 12/2019.

Doanh số cho vay trong tháng ước đạt 12.000 tỷ đồng; Dư nợ cho vay ước đạt 80.600 tỷ đồng, tăng 0,43% so với tháng 12/2019.

Nợ xấu nội bảng 650 tỷ đồng, chiếm 0,81% tổng dư nợ.

Hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng trên địa bàn khá ổn định. Tỷ giá vàng và ngoại tệ diễn biến theo xu hướng chung của cả nước và thế giới.

6. Thương mại - dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng Một ước đạt 9.682,47 tỷ đồng, tăng 6,86% so tháng 12/2019, tăng 10,86% so cùng tháng năm trước. Chia theo ngành hoạt động

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Một ước đạt 6.971,41 tỷ đồng, tăng 6,99% so tháng trước, tăng 11,02% so cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Một ước đạt 1.501,51 tỷ đồng, tăng 5,83% so tháng trước, tăng 10,40% so cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng Một đạt 45,24 tỷ đồng, tăng 22,85% so tháng trước, tăng 20,47% so cùng kỳ.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng Một ước đạt 1.164,31 tỷ đồng, tăng 6,88% so tháng trước, tăng 10,21% so cùng kỳ.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Một ước đạt 50,72 triệu USD, giảm 23,11% so với tháng trước, tăng 11,46% so cùng kỳ. Trong đó so với tháng trước hàng thủy hải sản tăng 12,25%; nguyên liệu giày da tăng 28,04%.

Các mặt hàng xuất khẩu tăng so cùng kỳ như Cá đông tăng 4,11% (tăng 150 tấn); Tôm đông tăng 20,25%; cá cơm sấy tăng 38,89%. Còn lại các mặt hàng khác đều giảm.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Một ước đạt 12,5 triệu USD, giảm 20,28% so với tháng trước và tăng 54,70% so cùng tháng năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu dùng cho sản xuất.

c. Vận tải

Vận tải hành khách tháng Một ước đạt 5,24 triệu lượt khách, tăng 5,06% so tháng trước, tăng 7,69% so cùng kỳ; luân chuyển 375,74 triệu HK.km, tăng 5,05% so tháng trước, tăng 7,70% so cùng kỳ. Trong đó so cùng kỳ năm trước vận tải hành khách đường bộ tăng cao nhất, tăng 7,76%; vận tải hàng hóa đường biển tăng 7,74%. Nguyên nhân là do tháng 01/2020 là tháng tết Âm lịch, lượng khách đi lại tăng cao vào dịp trước tết.

Vận tải hàng hóa tháng Một ước đạt 1,19 triệu tấn, tăng 4,81% so tháng trước, tăng 5,73% so cùng kỳ; luân chuyển 176,01 triệu tấn.km, tăng 4,78% so tháng trước, tăng 5,68% so cùng kỳ. Trong đó so cùng kỳ năm trước vận tải hàng hóa đường bộ tăng cao nhất, tăng 8,23%; vận tải hàng hóa đường sông tăng 7,24%.

d. Du lịch

Tổng lượt khách du lịch tháng Một ước đạt 819,87 ngàn lượt khách, tăng 39,69% so tháng trước, tăng 56,85% so tháng cùng kỳ. Trong đó lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 381,92 ngàn lượt khách, tăng 18,70% so tháng trước, tăng 34,18% so tháng cùng kỳ. (Số khách quốc tế 82,84 ngàn lượt khách, tăng 44,89% so tháng trước, tăng 5,65% so tháng cùng kỳ).

7. Một số tình hình xã hội

a. An sinh xã hội, giải quyết việc làm, đào tạo nghề

Nhân dịp Tết Nguyên đán Canh tý năm 2020, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tổ chức nhiều đoàn đến thăm, tặng quà các đơn vị lực lượng vũ trang, bệnh viện, trường, trại, trung tâm và các đối tượng chính sách, người có công, người cao tuổi trên địa bàn tỉnh với Tổng kinh phí hỗ trợ quà tết 19,22 tỷ đồng[4]. Hỗ trợ quà tết cho hộ nghèo nhân dịp tết Nguyên đán Canh Tý trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí 6,156 tỷ đồng với 12.313 hộ nghèo. Trong đó: Ngân sách tỉnh và nguồn vận động tỉnh là 4,938 tỷ đồng; Các huyện, thành phố vận động là 1,218 tỷ đồng.

Tháng Một giải quyết việc làm cho 3.245 lượt người[5], đạt 9,27% kế hoạch, tăng 0,87% so cùng tháng năm trước. Các cơ sở đào tạo nghề tổ chức đào tạo nghề cho 205 người, đạt 0,65% kế hoạch.

b. Giáo dục

Kiểm tra công tác PCGD - XMC tại 11 huyện, thành phố (Hà Tiên, Giồng Riềng, Gò Quao, Phú quốc, Rạch Giá, An Biên, U Minh Thượng, Kiên Hải, An Minh, Châu Thành và Hòn Đất). Triển khai thực hiện đánh giá ngoài 01 trường tiểu học trên địa bàn huyện Gò Quao; Hoàn thành hồ sơ đánh giá ngoài 02 trường mầm non thuộc địa bàn huyện Châu Thành. UBND tỉnh ban hành Quyết định công nhận 01 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, tổ chức thực hiện thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia.

c. Tình hình y tế

Trong tháng, các cơ sở y tế đã khám, điều trị bệnh cho 339.063 lượt người, điều trị nội trú 22.836 bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh chung 87,3%, Tỷ lệ khỏi bệnh 81,42%, tỷ lệ tử vong 0,12%. Số lượt khám chữa bệnh bằng YHCT hoặc kết hợp YHHĐ và YHCT 43.949 lượt, chiếm 13,82% tổng số lượt khám chữa bệnh trong tháng.

Tình hình dịch bệnh trong tháng (từ ngày 10/12/2019 – 10/1/2020):

Trong tháng, bệnh Sốt xuất huyết, Bệnh Tay chân miệng... có xu hướng giảm[6]. Ngành Y tế đã thường xuyên tăng cường tuyên truyền về phòng, chống bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng và các bệnh nguy hiểm khác rộng khắp ở tất cả các khu dân cư. Phòng chống HIV/AIDS trong tháng thực hiện xét nghiệm, sàng lọc 7.134 mẫu máu, phát hiện mới 25 cas HIV dương tính[7].

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: Thực hiện thanh, kiểm tra 459 cơ sở, có 353 cơ sở đảm bảo VSATTP theo quy định và 106 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP theo quy định. Đã nhắc nhở và hướng dẫn cho 106 cơ sở còn có những hạn chế trong đảm bảo VSATTP nhưng chưa đến mức phải xử phạt vi phạm hành chính. Đã tiêu hủy 8 loại sản phẩm của 8 cơ sở với khối lượng 56 kg thực phẩm không có nhãn, không rõ nguồn gốc, quá hạn sử dụng.

Toàn tỉnh ghi nhận 19 cas ngộ độc thực phẩm do tác dụng độc của cồn.

d. Hoạt động Văn hóa, Thể dục thể thao

Hoạt động Văn hóa, tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 74 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946 - 06/01/2020); kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Học sinh, sinh viên và Hội sinh viên Việt Nam (09/01/1950 - 09/01/2020); tham gia các hoạt động “Tết Quân - Dân” năm 2020. Đặc biệt, chuẩn bị tổ chức Lễ hội đón Giao thừa Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 tại thành phố Rạch Giá, thành phố Hà Tiên, huyện Phú Quốc và huyện Vĩnh Thuận.

Hoạt động Thể dục thể thao, Tổ chức tổng kết khen thưởng cho 63 huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích tại các giải thể thao khu vực, toàn quốc và quốc tế năm 2019. Tổ chức Giải Việt dã leo núi Hòn Đất tỉnh Kiên Giang năm 2020 nhân dịp Lễ kỷ niệm 58 năm Ngày hy sinh của Anh hùng LLVTND Phan Thị Ràng (09/01/1962 - 09/01/2020) tại huyện Hòn Đất.[8]

e. Tai nạn giao thông

Tính từ ngày 15/12/2019 đến 14/1/2020 trên toàn tỉnh xảy ra 7 vụ tai nạn giao thông, làm 3 người chết, 7 người bị thương, trong đó số vụ tai nạn nghiêm trọng 5 vụ, làm 3 người chết, 5 người bị thương. So với tháng 12/2019 số vụ TNGT giảm 15 vụ, số người chết giảm 7 người, số người bị thương giảm 8 người. So với cùng thời điểm năm trước, giảm 10 vụ TNGT, giảm 8 người chết, giảm 3 người bị thương. Tình hình tai nạn giao thông những ngày đầu năm 2020 đã giảm đáng kể sau khi Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2020.

f. Tình hình cháy, nổ và thiên tai

Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/12/2019 đến 14/1/2020 toàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy, 01 vụ nổ, làm chết 2 người, bị thương 15 người, ước thiệt hại vật chất khoảng 5 tỷ 402 triệu đồng (có 01 vụ cháy, 01 vụ nổ chưa thống kê được thiệt hại về vật chất)./.

Tải về: - Số liệu kinh tế xã hội tháng 01 năm 2020 của tỉnh Kiên Giang;

            - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01 năm 2020 của tỉnh Kiên Giang.


[1] Lúa vụ Mùa (2019 – 2020) đã gieo trồng ở các huyện An Biên 17.432 ha, An Minh 25.763 ha,Vĩnh Thuận 9.968 ha, U Minh Thượng 7.151 ha, Gò Quao 1.640 ha và thành phố Hà Tiên 657 ha.

[2] Lúa Đông Xuân (2019 – 2020) đã gieo trồng ở các huyện Hòn Đất 79.975 ha, Tân Hiệp 36.803 ha, Châu Thành 18.745 ha, Giồng Riềng 46.654 ha, Gò Quao 25.249 ha, An Biên 8.323 ha, An Minh 100 ha, Vĩnh Thuận 4.770 ha, U Minh Thượng 9.460 ha, Giang Thành 29.450 ha, Kiên Lương 24.000 ha và TP Rạch Giá 5.497 ha,

[3] Chia ra: Giá trị khai thác giảm 9,78% so tháng trước, giảm 8,52% so cùng kỳ; giá trị nuôi trồng giảm 8,18% so tháng trước, tăng 34,30% so cùng kỳ.

[4] Trong đó Trung ương hỗ trợ 21.234 người có công và thân nhân với số tiền 4,298 tỷ đồng; ngân sách tỉnh hỗ trợ 23.664 người với số tiền 10,051 tỷ đồng, đối tượng người có công khác 2.819 người, số tiền 2,35 tỷ đồng; thăm các đơn vị lực lượng vũ trang, bệnh viện, trường trại trong và ngoài tỉnh 634 đơn vị, số tiền 2,52 tỷ đồng

[5] Trong đó trong tỉnh 1.691 lượt người, ngoài tỉnh 1.554 lượt người.

[6] Sốt xuất huyết có 107 cas mắc (giảm 103 cas so với tháng trước, giảm 33 cas so cùng kỳ).Trong đó Sốt xuất huyết Dengue nặng 7 ca, tử vong 0. Tay chân miệng có 96 cas mắc (giảm 181 cas so với tháng trước, giảm 192 cas so cùng kỳ), tử vong 0.

[7] Số bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV mới là 25 BN (tích lũy 2.059 BN, trong đó người lớn có 1.959 người; trẻ em dưới 15 tuổi có 100 người)

[8] Với gần 600 vận động viên đến từ các cơ quan, ban ngành, các huyện, thành phố, các Trường chuyên nghiệp, THPT, THCS trong tỉnh; thu hút khoảng 3.000 lượt người xem và cổ vũ.

 

Số lần đọc: 238
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan