29.11.2017

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp:

* Vụ Hè thu: Toàn tỉnh gieo trồng được 287.635 ha, trong đó lúa chất lượng cao đạt 73,7%, đa số giống OM 5451 và ĐS1 chiếm 45,7%, Vụ Hè Thu này có 45.295 ha lúa nhật (giống ĐS 1), chiếm 15,75%/ tổng diện tích gieo trồng gồm ở các huyện Hòn Đất 23.478 ha, Kiên Lương 14.995 ha, Giang Thành 6.629 ha, Giồng Riềng 194 ha… Vụ Hè Thu do ảnh hưởng của thời tiết mưa bão xảy ra liên tục đã làm ngập úng nhiều diện tích lúa đang thời kỳ trổ đồng, đồng chín ở các huyện Giang Thành, Hòn Đất, Kiên Lương …cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cũng như  tiến độ thu hoạch. Năng suất đạt 5,51 tấn/ha, sản lượng 1.584.591 tấn, đạt 95,92% kế hoạch, giảm 2,14% (giảm 34.618 tấn) so cùng kỳ.

* Vụ Thu Đông (vụ 3): Diện tích xuống giống được 86.089 ha, đạt 95,65% kế hoạch, giảm 6,61 % so với cùng kỳ. Tập trung ở các huyện Giồng Riềng 32.915 ha, Tân Hiệp 34.158 ha, Châu Thành 9.363 ha, Hòn Đất 7.454 ha, Gò Quao 1.549 ha, Rạch Giá 650 ha. Đến nay, bà con đã thu hoạch hết diện tích, năng suất ước đạt 5,25 tấn/ha, sản lượng dự kiến đạt 451.967 tấn (giảm 43.033 tấn so với kế hoạch), giảm 8,22% so cùng kỳ (40.477 tấn).          .          

* Vụ Mùa 2017-2018: Đến nay, toàn tỉnh đã gieo trồng được 57.859 ha, đạt 105,20% kế hoạch, gồm thị xã Hà Tiên 538 ha, An Biên 14.695 ha, An Minh 22.623 ha, Vĩnh Thuận 11.328 ha, U Minh Thượng 7.109 ha, Gò Quao 1.566 ha.

Diện tích bị nhiễm bệnh trên lúa mùa hiện nay là 1.076 ha, chủ yếu một số bệnh như: Đạo ôn lá 639 ha, lem lét hạt 73 ha, OBV 172 ha…

* Vụ Đông Xuân 2017-2018: Tính đến nay, bà con nông dân đã gieo trồng được 41.324 ha, tập trung ở các huyện như: U Minh Thượng 7.616 ha, An Biên 9.598 ha,Vĩnh Thuận 6.492 ha, Gò Quao 7.463 ha, Châu Thành 1.967 ha, Giang Thành 6.000 ha, An Minh 93 ha.

Diện tích  bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Đông Xuân 2017 - 2018 là 891 ha, chủ yếu là một số bệnh như: OBV 236 ha, Đạo ôn lá 205 ha, Cháy bìa lá 105 ha và lem lép hạt 170 ha… để giảm thiểu dịch bệnh, các cơ quan chức năng khuyến cáo bà con thường xuyên thăm đồng nhằm phát hiện sớm dịch bệnh để có biện pháp phòng trừ kịp thời, hiệu quả.

* Cây màu: Tính từ đầu năm trên toàn tỉnh, bà con nông dân đã trồng được các loại cây màu chủ yếu như: Dưa hấu 1.217 ha, bằng 90,08% so cùng kỳ; khoai lang 1.405 ha, bằng 91%; rau đậu các loại 8.934 ha, tăng 7,82% so cùng kỳ năm trước...

* Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/10/2017, đàn trâu hiện có 5.314 con, đạt 98,41% kế hoạch, tăng 1,08%  so cùng kỳ;  Đàn bò 12.098 con, đạt 96,78% kế hoạch, tăng 6,69% (tăng 759 con) so cùng kỳ; Đàn heo hiện có 340.207 con, đạt 91,95% kế hoạch, tăng 0,05% so cùng kỳ; Đàn gia cầm 5.538 ngàn con, đạt 92,30% kế hoạch, tăng 0,95% so với cùng kỳ.

Tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh so kế hoạch đều không đạt và so với cùng kỳ chỉ có xu hướng tăng nhẹ là do tình hình giá thịt hơi các loại trên thị trường từ đầu năm đến nay đều giảm nhất là giá thịt heo hơi đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tái đàn của bà con nông dân.

b. Lâm nghiệp:

Tình hình chăm sóc và bảo vệ rừng được thực hiện thường xuyên, ngành Kiểm lâm phối hợp với chính quyền các địa phương tuyên truyền giáo dục,vận động nhân dân bảo vệ rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát, trang bị đầy đủ các trang thiết bị sẳn sàng ứng phó với mọi tình huống xảy ra. Thời tiết tháng 11 mưa nhiều nên không  xảy ra  vụ cháy rừng nào, tuy nhiên trong tháng còn xảy ra 02 vụ vi phạm chặt phá lấn chiếm đất rừng (huyện Kiên Lương 01 vụ, Kiên Hải 01 vụ) với diện tích khoảng 0,447 ha, giảm 01 vụ so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng đã có 8 vụ cháy rừng, tổng diện tích rừng bị cháy 5,487 ha chủ yếu là rừng đồng cỏ xen tràm tái sinh; số vụ phá rừng 35 vụ, tổng diện tích rừng bị phá 2,891 ha.

c. Thủy sản:

Giá trị sản xuất thủy sản (theo giá so sánh 2010): Tháng 11 ước tính 2.302,68 tỷ đồng, giảm 3,36% so với tháng trước, tăng 7,68% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Giá trị khai thác 1.237,05 tỷ đồng, giảm 3,04% so tháng trước, tăng 6,11% so cùng kỳ. Giá trị nuôi trồng 1.065,63 tỷ đồng, giảm 3,72% so tháng trước, tăng 9,56 % so cùng kỳ. Luỹ kế 11 tháng giá trị sản xuất thuỷ sản ước tính 25.374,77 tỷ đồng, đạt 90,11% kế hoạch năm, tăng 9,95% so cùng kỳ. Trong đó: khai thác 13.314,01 tỷ đồng, đạt 83,80% kế hoạch, tăng  2,21% so cùng kỳ; nuôi trồng 12.060,76 tỷ đồng, đạt 98,27% kế hoạch, tăng 19,98% so cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản (khai thác và nuôi trồng): Tháng 11 ước thực hiện 65.026 tấn, giảm 4,33 % so tháng trước, tăng 5,97% so cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 11 tháng  709.273 tấn, đạt 93,98% kế hoạch năm, tăng 8,64% so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác: Tháng 11 ước tính 45.469 tấn thủy hải sản các loại, giảm 2,39% (giảm 1.114 tấn) so tháng trước. Trong đó: cá các loại 33.292 tấn, giảm 2,47% (giảm 842 tấn); tôm 3.196 tấn, giảm 0,59 % (giảm 19 tấn); mực 5.913 tấn, giảm 1,35%; thủy sản khác 3.068 tấn, giảm 5,31%...

Tính chung 11 tháng sản lượng khai thác được 503.028 tấn, đạt 94,91% kế hoạch năm, tăng 5,64% so cùng kỳ năm trước (tăng 26.875 tấn), trong đó: cá các loại 367.713 tấn, tăng 7,59% (tăng 25.935 tấn); tôm 33.435 tấn, giảm 2,27% (giảm 775 tấn); mực 63.916 tấn, tăng 3,94% (tăng 2.421 tấn)...

Sản lượng nuôi trồng: Tháng 11 ước đạt 19.557 tấn thủy sản các loại, giảm 8,56%  so tháng trước (giảm 1.830 tấn), tăng 7,36% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá các loại 6.695 tấn, giảm 24,56% so tháng trước; tôm các loại 4.977 tấn, tăng 4,58%, trong đó: tôm thẻ chân trắng 2.187 tấn, tăng 15,84%; riêng tôm sú được 2.462 tấn, giảm 9,02% (giảm 244 tấn); thủy sản khác 7.885 tấn, tăng 1,70%...

Tính chung 11 tháng sản lượng nuôi trồng ước tính 206.245 tấn, đạt 91,78% kế hoạch, tăng 16,71% (tăng 29.532 tấn) so cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá nuôi các loại 65.832 tấn, tăng 17,81% (tăng 9.951tấn); tôm các loại 62.176 tấn, đạt 98,69% kế hoạch, tăng 20,77% (tăng 10.694 tấn), trong đó: tôm sú được 40.835tấn, tăng 13,15% (tăng 4.746 tấn); tôm thẻ chân trắng 15.166 tấn, tăng 24,57% ( tăng 2.991 tấn; thủy sản khác như: sò nuôi 30.699 tấn, tăng 1.534 tấn; cua 16137 tấn, tăng 1.454 tấn ...

Tính đến ngày 15/11/2017, diện tích tôm thả nuôi cả năm là 119.488 ha, đạt 105,74% kế hoạch, trong đó nuôi tôm công nghiệp 2.152 ha, đạt 82,77% so kế hoạch, diện tích tôm lúa 90.778 ha, đạt 101,99% kế hoạch, diện tích tôm quảng canh 26.558 ha, đạt 124,10% kế hoạch năm.

2. Công nghiệp:

Chỉ số sản xuất công nghiệp: Tháng 11, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 6,35% so tháng trước, tăng 14,27% so cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, ngành tăng cao nhất là ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 7,40%;  kế đến là ngành khai khoáng tăng 6,75%; ngành cung cấp nước,  hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,74%; ngành chế biến, chế tạo tăng 6,26%.

Tính chung 11 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 8,47% so cùng kỳ năm trước, ngành tăng cao nhất là ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 10,05%; Kế đến là ngành chế biến, chế tạo tăng 8,57%, trong đó: %, ngành sản xuất đồ uống tăng 35,38%. Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 8,15%; Ngành khai khoáng tăng 3,93%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng 11 ước đạt 4.761,32 tỷ đồng, tăng 6,81% so tháng trước, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 4.598,85 tỷ đồng, tăng 6,80%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 92,84 tỷ đồng, tăng 7,02%; ngành khai khoáng đạt 50,55 tỷ đồng, tăng 6,53%. Luỹ kế 11 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành 36.865,22 tỷ đồng, đạt 86,77% kế hoạch năm, tăng 8,51% so cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 35.203,91 tỷ đồng, chiếm 95,49%/Tổng giá trị sản xuất toàn ngành, tăng 8,57%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước 998,85 tỷ đồng, tăng 8,15%; ngành khai khoáng 455,58 tỷ đồng, tăng 3,93%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải 206,86 tỷ đồng, tăng 10,05% so cùng kỳ.

Một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng đầu năm có mức tăng khá cao so cùng kỳ năm trước như: Bia các loại 78.187 ngàn lít, tăng 52,29%; Gạch không nung 6.281 ngàn viên, tăng hơn 5 lần; xi măng địa phương 1.182,36 ngàn tấn, tăng 12,31%; xi măng Trung ương 1.340,92 ngàn tấn, tăng 4,65%; tôm đông 3.334 tấn, tăng 4,12%; cá đông lạnh 3.830 tấn, tăng 10,28%...

Chỉ số tiêu thụ:  Toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2017 bằng 98,19% so với tháng trước. Trong đó: ngành chế biến thực phẩm tăng 0,74%; ngành sản xuất đồ uống tăng 7,06%, riêng ngành sản xuất xi măng giảm 8,03%... Tính chung 11 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành  tăng 50,93% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 11 tháng tăng hơn so cùng kỳ năm trước như: chế biến đồ uống tăng 2,3 lần; chế biến thực phẩm tăng 50,36%; sản xuất xi măng tăng 49,80%...

 Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/11/2017 giảm 11,02% so với tháng trước, trong đó: ngành có chỉ số hàng tồn kho cao là sản xuất xi măng tăng 47,93%, chế biến thực phẩm tăng 10,58%. Còn lại các ngành khác đều giảm so với tháng trước.

Qua so sánh 2 chỉ số trên cho thấy, trong những tháng gần đây các nhà máy sản xuất xi măng đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra do ảnh hưởng đến tình hình tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn đang chững lại.

3. Vốn đầu tư:

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 11 được 372,40 tỷ đồng, so tháng trước tăng 5,22%. Bao gồm: Vốn cân đối ngân sách địa phương 161,30 tỷ đồng, tăng 5,76%; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 73,30 tỷ đồng, tăng 7,69%; vốn khác từ ngân sách 104,30 tỷ đồng, tăng 2,98%; vốn ngoài nước (ODA) 33,50 tỷ đồng, tăng 4,50% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ước thực hiện 3.514,60 tỷ đồng, đạt 86,05% kế hoạch năm, giảm 3,74% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn cân đối ngân sách địa phương 1.788,88 tỷ đồng, đạt 84,40% kế hoạch, tăng 11,48% so cùng kỳ; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 467,46 tỷ đồng, đạt 102,83% kế hoạch, bằng 61,92% so cùng kỳ; vốn khác từ ngân sách 1.099,15 tỷ đồng, đạt 91,60% kế hoạch, giảm 3,84%; vốn ngoài nước ODA 159,12 tỷ đồng, đạt 81,81% kế hoạch, tăng 7,13% so cùng kỳ.

4. Thu, chi ngân sách:

Tổng thu ngân sách trên địa bàn: Tháng 11 ước tính thu ngân sách 750,58 tỷ đồng, giảm 18,21 % so tháng trước, tăng 20% so cùng kỳ năm trước. Tổng thu ngân sách 11 tháng  được 8.153,12 tỷ đồng, đạt 92,25% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 17,61% so cùng kỳ năm 2016. Trong đó: thu nội địa 7.944,72 tỷ đồng, đạt 92,29% dự toán, tăng 18,22% so cùng kỳ, chiếm 97,44%/ trong tổng thu ngân sách của tỉnh.  Một số các khoản thu đạt dự toán khá cao như: Thu tiền sử dụng đất 1.161,08 tỷ đồng, đạt 105,55% dự toán, tăng 3,47% so cùng kỳ; Thu thuế thu nhập cá nhân 625,36 tỷ đồng, đạt 102,52% dự toán, tăng 39,03% so cùng kỳ; thu lệ phí trước bạ 294,20 tỷ đồng, đạt 106,21% dự toán, tăng 23,10% so cùng kỳ…

Tổng chi ngân sách địa phương: Tháng 11 ước tính chi ngân sách địa phương 1.086,65 tỷ đồng, bằng 88,58% so tháng trước, giảm 16,17% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng tổng chi ngân sách 10.005,77 tỷ đồng, đạt 83,83% dự toán năm, tăng 5,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi thường xuyên 6.572,69 tỷ đồng, đạt 88,58% dự toán năm, tăng 10,82%; chi đầu tư phát triển 3.331,21 tỷ đồng, đạt 81,63% dự toán năm, tăng 9,66% so với cùng kỳ.

5. Ngân hàng:

Ước đến 30/11/2017, một số chỉ tiêu tình hình hoạt động ngân hàng trên địa bàn đạt cụ thể như sau:

- Tổng nguồn vốn hoạt động đạt 67.400 tỷ đồng, tăng 0,94% so với tháng trước, tăng 17,50% so với đầu năm. Trong đó, số dư huy động vốn tại địa phương đạt 38.850 tỷ đồng, tăng 0,37% so với tháng trước, tăng 18,52% so với đầu năm, chiếm 57,64% tổng nguồn vốn hoạt động.

- Ước doanh số cho vay tháng 11/2017 đạt 9.000 tỷ đồng. Dư nợ cho vay đến 30/11/2017 ước đạt 53.650 tỷ đồng, tăng 0,73% so với tháng trước, tăng 18,33% so với đầu năm.

- Dư nợ xấu ước 600 tỷ đồng, chiếm 1,12%/tổng dư nợ.

6. Thương mại - dịch vụ:

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước tính tháng 11 đạt 7.504,77 tỷ đồng, tăng 2,95% so tháng trước, tăng 10,19% so cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 76.908,32 tỷ đồng, đạt 92,11% kế hoạch, tăng 14,00% so cùng kỳ. Chia ra:

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 11 ước tính 5.726,91 tỷ đồng,  tăng 2,06% so tháng trước, tăng 13,14% so cùng kỳ.  Lũy kế 11 tháng 57.878,57 tỷ đồng, đạt 92,68% kế hoạch, tăng 12,49% so cùng kỳ.

* Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Tháng 11 ước tính 960,11 tỷ đồng,  tăng 8,33% so tháng trước. Luỹ kế 11 tháng 9.794,82 tỷ đồng, đạt 90,69% so kế hoạch, tăng 15,68% so cùng kỳ năm trước. Chia ra:

Doanh thu dịch vụ lưu trú: Tháng 11 ước tính 190,07 tỷ đồng,  tăng 21,52% so tháng trước. Luỹ kế 11 tháng 2.009,04 tỷ đồng, tăng 21,79% so cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ ăn uống: Thực hiện tháng 11 ước được 770,03 tỷ đồng, tăng 5,50% so tháng trước. Luỹ kế 11 tháng 7.785,77 tỷ đồng, tăng 14,20% so cùng kỳ năm trước.

* Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 11 ước tính 34,72 tỷ đồng, tăng 33,53% so tháng trước. Luỹ kế 11 tháng doanh thu du lịch lữ hành được 222,34 tỷ đồng, đạt 90,13% so kế hoạch, tăng 22,29% so cùng kỳ năm trước.

* Doanh thu dịch vụ khác: Tháng 11 thực hiện ước đạt 783,03 tỷ đồng, tăng 2,20% so với tháng trước, tăng 3,13% so cùng kỳ. Một số nhóm doanh thu dịch vụ tăng nhẹ như: dịch vụ kinh doanh bất động sản 395,86 tỷ đồng, chiếm 50,55%/Tổng doanh thu, tăng 3,54%; dịch vụ vui chơi, giải trí tăng 0,64%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 2,53%...

Tính chung 11 tháng doanh thu các hoạt động dịch vụ ước thực hiện 9.012,58 tỷ đồng, đạt 90,13% so kế hoạch, tăng 22,29% so cùng kỳ năm trước. Đa số các hoạt động dịch vụ doanh thu đều tăng khá cao như: nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tính 4.988,09 tỷ đồng, chiếm 55,34%/Tổng doanh thu, tăng 35,77%;  nhóm dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 39,55%; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 29,02%;  nhóm dịch vụ sửa chữa đồ dùng cá nhân gia đình tăng 23,00% so cùng kỳ năm 2016.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa:

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu: Tháng 11 dự tính đạt 43,66 triệu USD, tăng 2,64% so với tháng trước, tăng 36,93% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Hàng nông sản 12,83 triệu USD, bằng 69,98% so tháng trước; hàng thủy sản 18,23 triệu USD, tăng 12,32%; hàng hóa khác 2,09 triệu USD, tăng 11,64% so tháng trước.

Luỹ kế 11 tháng kim ngạch xuất khẩu thực hiện được 433,61 triệu USD, đạt 108,40% kế hoạch năm, tăng 32,82% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Hàng nông sản 159,80 triệu USD, đạt 71,03% kế hoạch, giảm 14,48% so cùng kỳ; hàng thủy sản 174,53 triệu USD, đạt 120,37% kế hoạch, tăng 45,72%; hàng hóa khác (như bột mì, mì ăn liền, bao PP, dầu ăn …) là 22,37 triệu USD, đạt 74,57% kế hoạch, tăng 12,78% so cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu: Nhập khẩu hàng hóa tháng 11 ước tính đạt 2,5 triệu USD, tăng 36,61% so tháng trước. Tính chung 11 tháng được 54,83 triệu USD, đạt 109,68% kế hoạch năm, giảm 10,44% so cùng kỳ năm 2016.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu dùng cho sản xuất gồm: thạch cao, giấy Kratp, hạt nhựa và sắt làm lưỡi câu mực, trục xoay câu mực...

c. Chỉ số giá:

* Chỉ số giá tiêu dùng: Tháng 11/2017 tăng 0,13% so với tháng trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,22%, khu vực nông thôn tăng 0,07%.

Những nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng trong tháng tăng nhẹ là do có 07 nhóm hàng tăng, gồm: Nhóm giao thông tăng 0,76%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,65%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15%; nhóm may mặc, giày dép tăng 0,10%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,02%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%.  Riêng  có 2 nhóm hàng giảm so với tháng trước đó là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt giảm - 0,19%; nhóm bưu chính, viễn thông giảm -0,08%.  Các nhóm còn lại bình ổn.

* Chỉ số giá vàng: Tháng 11/2017 giảm – 0,45% so với tháng trước, tăng 1,53% So với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân tháng 11/2017 là 3.525.000 đồng/chỉ (bình quân giảm 16.000 đồng/chỉ so với tháng 10/2017).

* Chỉ số giá Đô la Mỹ: Tháng 11/2017 tăng 0,45% so tháng trước, tăng 1,53% so cùng tháng năm trước. Giá USD bình quân tháng 11/2017 là 22.824 đồng/1 USD, tăng 102 đồng/1 USD So với tháng 10/2017.

d. Vận tải:

Vận tải hành khách: Tháng 11 vận tải hành khách ước đạt 6,144 triệu lượt khách, tăng 1,94% so tháng trước; luân chuyển 295,60 triệu HK.km, tăng 2,43% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng vận tải hành khách thực hiện 68,23 triệu lượt khách, đạt 89,93% kế hoạch, tăng 6,94% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 4.125,39 triệu HK.km, đạt 92,87% kế hoạch, tăng 7,91% so cùng kỳ. Bao gồm: Vận tải hành khách đường bộ 55,32 triệu lượt khách, tăng 7,51% so cùng kỳ, luân chuyển 3.306,40 triệu lượt khách.km, tăng 8,36% so cùng kỳ; Vận tải hành khách đường sông 10,90 triệu lượt khách, tăng 4,78%, luân chuyển 612,06 triệu lượt khách.km, tăng 7,16%; Vận tải hành khách đường biển 2,001 triệu lượt khách, tăng 3,41%, luân chuyển 206,92 triệu lượt khách.km, tăng 3,17% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa: Tháng 11 vận tải hàng hóa ước tính 917 ngàn tấn, tăng 1,89% so tháng trước; luân chuyển 126,34 triệu tấn.km, tăng 1,87% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng vận tải hàng hóa thực hiện 9,718 triệu tấn, đạt 90,37% kế hoạch năm, tăng 6,43% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 1.317,86 triệu tấn.km, đạt 90,85% kế hoạch, tăng 7,09% so cùng kỳ. Bao gồm: Vận tải hàng hóa đường bộ 3,003 triệu tấn, tăng 8,14% so cùng kỳ, luân chuyển 419,80 triệu tấn.km, tăng 8,97%; Vận tải hàng hóa đường sông 3,93 triệu tấn, tăng 4,54%, luân chuyển 494,25 triệu tấn.km, tăng 4,89% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đường biển 2,77 triệu tấn, tăng 7,34%, luân chuyển 403,80 triệu tấn.km, tăng 7,92% so cùng kỳ.

e. Du lịch:

Tổng lượt khách du lịch tháng 11 ước đạt 375,76 ngàn lượt khách, giảm 0,81% so tháng trước, trong đó: Số lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch, đạt 273,75 ngàn lượt khách, tăng 20,93% so với tháng trước; số khách quốc tế 34,25 ngàn lượt khách, tăng 30,16%. Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch bao gồm: Số lượt khách từ cơ sở lưu trú du lịch phục vụ 245,20 ngàn lượt khách, tăng 19,22% so tháng trước và số lượt khách du lịch đi theo tour 28,55 ngàn lượt khách, tăng 37,90% so tháng trước.

Tính chung 11 tháng, tổng lượt khách du lịch dự kiến 5.664,88 ngàn lượt khách, đạt 97,33% kế hoạch năm, tăng 6,94% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch 2.631,23 ngàn lượt khách, tăng 6,00% so cùng kỳ. Số khách quốc tế 332,99 ngàn lượt khách, tăng 20,10% so với cùng kỳ. Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch bao gồm: khách cơ sở lưu trú du lịch phục vụ 2.463,01 ngàn lượt khách, tăng 5,32% và khách du lịch đi theo tour 168,22 ngàn lượt khách, tăng 17,05% so cùng kỳ.

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Lao động, việc làm: Tháng 11/2017 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm 3.949 lượt lao động, trong đó: trong tỉnh 1.562 lượt lao động, ngoài tỉnh 2.382 lượt lao động, xuất khẩu lao động 05 người. Tính chung 11 tháng tổng số lao động được giải quyết việc làm 34.657 lượt lao động, đạt 99,02% so với kế hoạch, (trong tỉnh 16.046 lượt lao động, ngoài tỉnh 18.515 lượt lao động, xuất khẩu 96 lao động).

Trung tâm Dịch vụ việc làm: Trong tháng đã tư vấn việc làm được 1.498 lượt lao động, lũy kế 32.631 lượt lao động, trong đó đã có việc làm ổn định 5.101 lao động. Giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 827 lao động (lũy kế 7.062 lao động).

Tiếp nhận, thẩm định đăng ký 03 nội quy lao động; 03 Thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp, nâng tổng số từ đầu năm đến nay lên 39 nội quy lao động; 23 thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp.

Công tác đào tạo nghề: Trong tháng các cơ sở dạy nghề tổ chức đào tạo 2.947 người, nâng tổng số lao động được đào tạo từ đầu năm đến nay là 24.525 người, đạt 98,10% kế hoạch, trong đó: Cao đẳng 2.908 người, Trung cấp 2.563 người; Sơ cấp và dạy nghề thường xuyên 19.054 người.                                        

Công tác Chính sách – Người có công: Trong tháng xác lập, thẩm định 377 hồ sơ người có công, nâng tổng số hồ sơ xác lập và thẩm định từ đầu năm đến nay là 3.933 hồ sơ.

7.2. Tình hình giáo dục:

Giáo dục Mầm non: Hoàn thành báo cáo thống kê đầu năm học 2017-2018 về lĩnh vực giáo dục mầm non. Triển khai thực hiện tổ chức cuộc thi  “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong các cơ sở giáo dục mầm non”. Tham dự Hội thảo đánh giá 03 năm triển khai cho trẻ mầm non làm quen với tiếng Anh. Kiểm tra, thẩm định Trường Mầm non Hoa Hồng, huyện Giồng Riềng đạt chuẩn quốc gia. Tiếp tục kiểm tra triển khai, thực hiện Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT và hồ sơ quản lý chuyên môn bậc học Giáo dục mầm non, năm học 2017-2018 của 15 huyện, thị xã và thành phố. Tiếp nhận hồ sơ 15 huyện, thị xã và thành phố đề nghị công nhận lại trường đạt chuẩn PCGDMNTNT năm học 2016-2017, đồng thời thành lập đoàn kiểm tra công nhận lại các đơn vị. 

Giáo dục tiểu học: Thực hiện công tác kiểm tra chuyên môn đơn vị cơ sở. Triển khai Chương trình tặng phẩm xúc xích dinh dưỡng tại 10 trường tiểu học trên địa bàn TP Rạch Giá theo sự chỉ đạo của Bộ GDĐT. Kiểm tra, thẩm định 3 trường đạt chuẩn quốc gia tại Giồng Riềng, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia đến nay lên 117 trường. Tổ chức “Hội thi giáo viên làm tổng phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh giỏi tỉnh Kiên Giang, năm 2017”.  Hoàn thành đánh giá ngoài 3 trường tiểu học. Phát động phong trào giáo dục qua góc học tập “Điều em muốn nói”.

Giáo dục trung học: Tổ chức triển khai công tác bồi dưỡng đội tuyển dự thi học sinh giỏi THPT quốc gia năm 2018; Tổ chức họp Hội đồng bộ môn cấp THPT năm học 2017-2018. Tổ chức kỳ thi Bài thi kiểm tra năng lực - Hội thi GVDG cấp THCS lần VII, năm học 2017-2018, với 347 giáo viên dự thi thuộc 15 phòng GDĐT và 19 trường trực thuộc. Chuẩn bị công tác tổ chức Cuộc thi KHKT cấp tỉnh năm học 2017-2018. Kiểm tra kỹ thuật và kiểm tra thẩm định các trường THCS đạt chuẩn quốc gia. Tham gia Hội thao cán bộ công chức, viên chức ngành Giáo dục lần thứ IV năm học 2017-2018 do Sở GDĐT phối hợp với Ban Thường vụ Công đoàn Ngành Giáo dục tổ chức.

7.3. Tình hình văn hóa, nghệ thuật, thể thao: Trong tháng đã tập trung tuyên truyền, tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phục vụ các nhiệm vụ chính trị và tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn như tuyên truyền hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (09/11), kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11), kỷ niệm Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11), hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới, Ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (25/11).

Phối hợp Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao tổ chức thành công Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang lần thứ XI năm 2017 tại huyện Gò Quao; đồng thời, triển khai kế hoạch tổ chức Lễ hội Nghinh Ông Kiên Hải năm 2017 tại huyện Kiên Hải.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Trong tháng, Bảo tàng tỉnh đã phục vụ 500 lượt khách đến tham quan, trong đó có 17 lượt khách nước ngoài. Tổ chức trưng bày phục vụ Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang lần thứ XI năm 2017 tại huyện Gò Quao. Sưu tầm 50 hiện vật và 80 hình ảnh phục vụ cho công tác trưng bày Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer Nam Bộ lần thứ VII - 2017 tại Bạc Liêu; thu hút khoảng 40.000 lượt khách đến tham quan.

 Thể dục thể thao quần chúng: Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao tổ chức Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang lần thứ XI năm 2017 tại huyện Gò Quao, gồm các giải: Bóng đá nam 05 người (có 19 đội), Đua xe đạp thể thao (có gần 50 vận động viên đến từ 05 CLB trong tỉnh), Bóng chuyền bãi biển nữ tỉnh Kiên Giang mở rộng (có 16 vận động viên - 08 đội), Đua ghe ngo nam - nữ (thi đấu 02 cự ly nam: 1.200m và 1.000m, 02 cự ly nữ: 800m và 600m; có 18 ghe ngo nam và 08 ghe ngo nữ), với sự tham gia của 3.216 vận động viên đến từ các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan ban, ngành và các câu lạc bộ trong tỉnh, thu hút 250.000 lượt người xem và cổ vũ. Tổ chức Hội thao các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp tỉnh Kiên Giang lần thứ III năm 2017 gồm các môn: Bóng đá 05 người nam - nữ, Ném bóng vào rổ nam - nữ, Bóng chuyền nam, Bóng chuyền hơi nữ, Cầu lông nam - nữ, Kéo co nam - nữ, Dân vũ - Aerobic, Chạy 100m nam - nữ và Nhảy xa nam - nữ, Chạy 800m nữ và 1.500m nam với sự tham gia của gần 750 vận động viên đến từ 11 trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp trong tỉnh. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội thao ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Thể thao thành tích cao: Duy trì tập luyện thường xuyên các đội tuyển thể thao theo kế hoạch. Thành lập Đoàn tham dự các giải: Đua ghe ngo nam - nữ, Bóng đá, Việt dã và Bóng chuyền tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào Khmer Nam Bộ lần thứ VII - 2017 tại Bạc Liêu. Đồng thời, tham dự giải Vô địch Canoeing quốc gia tại Hải Phòng và Giải Vô địch điền kinh quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh.

7.4. Tình hình y tế:

Trong tháng, các cơ sở y tế trong tỉnh đã khám, điều trị bệnh cho 462.714 lượt người; điều trị nội trú 23.861 bệnh nhân; công suất sử dụng giường bệnh chung là 103,38%; Tỷ lệ khỏi bệnh 93,05%, tỷ lệ tử vong 0,12%.

Số lượt khám chữa bệnh bằng Y Học Cổ truyền hoặc kết hợp YH hiện đại và YHCT là 61.108 lượt, chiếm 13,21 %/ tổng số lượt khám chữa bệnh trong tháng.

Tình hình dịch bệnh trong tháng (từ ngày 14/10/2017 – 12/11/2017):

Bệnh Sốt xuất huyết: Toàn tỉnh ghi nhận có 95 cas mắc, tử vong 01 cas, giảm 104 cas so với tháng trước. Tích lũy từ đầu năm đến nay là 1.417 cas mắc, so với cùng kỳ năm 2016 tăng 325 cas. Có tử vong 02 cas, giảm 01 cas so cùng kỳ.

Bệnh Tay Chân Miệng: Có 195 cas mắc, giảm 95 cas so với tháng trước. Tích lũy số mắc từ đầu năm đến nay là 1.436 cas mắc, so với cùng kỳ năm 2016 tăng 793 cas; không có tử vong.

Các bệnh truyền nhiễm khác: Số cas mắc trong tháng/lũy kế từ đầu năm như sau: Tả (0/0), Thương hàn (9/38), Viêm não virus (2/23), Viêm màng não do NMC (0/2), Cúm A H5N1 (0), Sởi (0).  

Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng thực hiện xét nghiệm 8.761 mẫu máu, phát hiện mới 09 cas HIV dương tính. Điều trị ARV cho 26 bệnh nhân HIV/AIDS, trong đó có 09 trẻ em dưới 15 tuổi. Tích lũy số bệnh nhân điều trị ARV là 1.474 người, trong đó có 110 trẻ dưới 15 tuổi. Tính đến thời điểm báo cáo, số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 2.161 người, trong giai đoạn AIDS là 1.452 người.

Số người điều trị Methadone mới trong tháng là 4 người, lũy kế có 94 người đang điều trị.

Phòng, chống các bệnh xã hội và bệnh nguy hiểm cho cộng đồng:

Trong tháng không phát hiện BN phong nào, phát hiện mới 212 BN lao, 06 BN tâm thần phân liệt và 03 BN động kinh. Lũy kế từ đầu năm phát hiện mới 06 BN phong, 2.472 BN lao, 58 BN tâm thần phân liệt và 59 BN động kinh. Điều trị khỏi bệnh 220 BN lao, lũy kế số điều trị khỏi bệnh lao là 2.145 người.

Số quản lý đến nay là 431 BN phong, 5.063 BN lao, 2.198 BN tâm thần phân liệt và 2.717 BN động kinh.

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: Đã thẩm định, cấp 36 Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, ký 16 Bản cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống; công bố 40 hồ sơ hợp quy, xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP. Thực hiện thanh tra, kiểm tra 1.193 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, trong đó có 194 cơ sở vi phạm, đã nhắc nhở 188 cơ sở vi phạm phải khắc phục,  xử lý 06 cơ sở với hình thức phạt tiền với tổng số tiền 6.350 ngàn đồng, buộc tiêu hủy sản phẩm của 06 cơ sở với 10 loại thực phẩm, tổng khối lượng 83 kg.

Trong tháng không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra, có 20 cas ngộ độc thực phẩm mắc lẻ (do ngộ độc của cồn là chủ yếu). Lũy kế từ đầu năm đến nay số cas mắc lẻ ngộ độc thực phẩm là 194 cas.

7.5. Tình hình an toàn giao thông: Tính từ ngày 16/10/2017 đến 15/11/2017 trên toàn tỉnh xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, làm 6 người chết, 15 người bị thương. Trong đó: Số vụ TNGT nghiêm trọng 11 vụ, làm 6 người chết, 8 người bị thương. So với tháng trước số vụ TNGT tăng 4 vụ, số người chết giảm 1 người, số người bị thương tăng 5 người. Tính chung 11 tháng, xảy ra 200 vụ tai nạn giao thông, làm 98 người chết, 138 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 22 vụ; giảm 26 người chết và giảm 41 người bị thương.

Tình hình tai nạn giao thông từ đầu năm đến nay có xu hướng giảm cả 3 tiêu chí. Tuy nhiên, số vụ tai nạn nghiêm trọng vẫn còn khá cao (chiếm 69,5%/tổng số), đề nghị các ngành chức năng ở các địa phương cần phải tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo an toàn giao thông và nâng cao văn hóa giao thông cho người dân khi tham gia giao thông nhằm giảm thiểu hơn nữa những vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng trong thời gian tới.

7.6. Tình hình cháy, nổ và thiên tai:

Tình hình cháy nổ: Từ ngày 16/10/2017 đến 15/11/2017 toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, không có vụ nổ, làm chết 03 người, nguyên nhân cháy do vận chuyển cồn bị rò rỉ gây cháy (1 vụ - TX Hà Tiên), một vụ do sự cố kỷ thuật bồn chứa Cyelon (Cty Xi măng Hà Tiên), 02 vụ đang trong quá trình điều tra. Ước thiệt hại khoảng 4 tỷ 054 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 34 vụ cháy, không có vụ nổ xảy ra, làm 04 người thiệt mạng và 01 người bị thương. Thiệt hại ước tính lũy kế 29 tỷ 701 triệu đồng.

Tình hình thiên tai: Từ ngày 16/10 đến 15/11/2017, Toàn tỉnh không có thiệt hại do ảnh hưởng của thiên tai gây ra.

Tính chung 11 tháng, toàn tỉnh do thiên tai đã làm 04 người chết, 01 người bị thương, 08 phương tiện bị chìm, sập 231 căn nhà, tốc mái 296 căn; ước thiệt hại là 12 tỷ 580 triệu đồng. Các cấp chính quyền đã kịp thời đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ tiền và hiện vật cho những gia đình bị nạn để bà con khắc phục khó khăn trước mắt, ổn định cuộc sống lâu dài./.

Tải về:  - Số liệu kinh tế xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2017

             - Chỉ số giá (CPI) tiêu dùng tháng 11 năm 2017.

Số lần đọc: 1332
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan