Tin nóng
* Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê nhà nước gồm: Trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời; Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê; Thống nhất về nghiệp vụ, không trùng lặp, không chồng chéo; Công khai, minh bạch và Có tính so sánh. * Hoạt động thống kê nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch, quy hoạch chính sách, quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội; Đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát việc thực hiện chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; Đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin thống kê của cơ quan, tổ chức, cá nhân. * Tích cực tham gia Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/04/2019: * Dân số là gốc rễ của xã hội; * Vì sự phát triển của dân số và tương lai của đất nước; * Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân. * Tích cực tham gia Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là góp phần xây dựng tương lai cho đất nước và mỗi chúng ta. * Hộ gia đình cung cấp thông tin đầy đủ về Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 01/04/2019 làm cở sở để tổng hợp, biên soạn một số chỉ tiêu thống kê quốc gia về dân số và nhà ở phục vụ các cấp, các ngành...
30.08.2019

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Vụ lúa Hè thu (kể cả Xuân hè): Toàn tỉnh xuống giống được 290.171ha, đạt 103,63% so kế hoạch, bằng 95,25 % so cùng kỳ. Đến nay, diện tích đã thu hoạch được 120.854 ha, năng suất ước đạt 5,30 tấn/ha.

Diện tích bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Hè Thu là 28.974 ha, các đối tượng gây hại chủ yếu gồm Rầy nâu 4.232 ha, Đạo ôn lá 6.083 ha, Cháy bìa lá 6.303 ha, Sâu cuốn lá 4.337ha, lem lét hạt 6.997 ha. Ngoài ra còn các đối tượng gây hại khác như: OBV, đạo ôn cổ bông, bù lạch, khô vằn … cũng xuất hiện và gây hại ở mức độ nhẹ.

Vụ Thu Đông (vụ 3): Tính đến ngày 15/8/2019 toàn tỉnh đã xuống giống được 75.293 ha đạt 90,71% so kế hoạch, tập trung ở các huyện Giổng Riềng 25.060 ha, Tân Hiệp 29.767 ha, Châu Thành 5.219 ha, Hòn Đất 2.887 ha, Gò Quao 250 ha, Giang Thành 11.200 ha và Rạch Giá 910 ha.

Cây rau màu

Diện tích  một số cây rau màu cũng được nhân dân đầu tư sản xuất như:  Dưa hấu 1.045 ha, tăng 2,96% so cùng kỳ, Khoai lang 1.050 ha, tăng 1,84%, Khoai mì 350 ha, tăng 6,38%, Bắp 205 ha, tăng 1,49%, Rau đậu các loại 7.836 ha, tăng 2,82%.

Chăn nuôi

Theo kết quả điều tra thống kê chăn nuôi thời điểm 1/7/2019, Tổng đàn trâu có 5.010 con, tăng 7,95% (tăng 369 con) so cùng kỳ, đàn bò 12.406 con tăng 6,49% (tăng 756 con), đàn heo có 211.068 con giảm 31,66% (giảm 97.769 con) so cùng kỳ, đàn gia cầm 4.258 ngàn con giảm 21,04% so cùng kỳ. Đàn heo giảm mạnh, nguyên nhân là do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp, tính đến ngày 16/8/2019 trên địa bàn tỉnh có 1.664 hộ chăn nuôi của 430 ấp, khu phố với 109 xã phường thuộc 14 huyện, thành phố có heo mắc bệnh; số heo mắc bệnh phải tiêu hủy 24.418 con, mặc khác do người chăn nuôi bán, giết thịt với số lượng tương đối lớn, nhưng không dám tái đàn.

Tình hình sản xuất và chăn nuôi trong tháng do ảnh hưởng thời tiết mưa nhiều, Dịch tả lợn Châu phi lan rộng, giá lúa Hè Thu xuống thấp... đã ảnh hưởng phần nào đến đời sống của bà con nông dân.

b. Lâm nghiệp

Trong tháng, do thời tiết mưa nhiều nên không xảy ra vụ cháy rừng nào. Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra 4 vụ vi phạm chặt phá lấn chiếm đất rừng (Phú Quốc 3 vụ, An Minh 01 vụ) với diện tích thiệt hại khoản 0,639 ha. Tính chung 8 tháng xảy ra 24 vụ chặt phá rừng, diện tích thiệt hại khoản 3,2 ha.

c. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010): Tháng Tám ước tính 2.996,54 tỷ đồng, giảm 9,26% so tháng trước, giảm 4,53% so cùng kỳ. Trong đó giá trị khai thác tăng 0,51% so tháng trước, giảm 0,23% so cùng kỳ; giá trị nuôi trồng giảm 15,87% so tháng trước, giảm 7,74% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng ước đạt 20.649,74 tỷ đồng, đạt 64,94% kế hoạch, tăng 6,13% so cùng kỳ. Chia ra, giá trị khai thác 10.531,54 tỷ đồng, đạt 63,06% kế hoạch, tăng 3,22%; giá trị nuôi trồng 10.118,20 tỷ đồng, đạt 67,01% kế hoạch, tăng 9,33%.

Tổng sản lượng thủy sản (cả khai thác và nuôi trồng): Tháng Tám ước đạt 79.873 tấn, giảm 2,84% so tháng trước (giảm 2.337 tấn), giảm 1,88% (giảm 1.532 tấn) so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng sản lượng ước tính 560.184 tấn, đạt 67,17% kế hoạch, tăng 5,36% so cùng kỳ. Chia ra

Sản lượng khai thác: Tháng Tám ước tính 50.819 tấn, giảm 0,26% so tháng trước, tăng 0,45% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng sản lượng khai thác đạt 401.451 tấn, đạt 67,93% kế hoạch, tăng 3,62% so cùng kỳ (tăng 14.013 tấn). Trong đó cá các loại tăng 4,64% (tăng 13.390 tấn), Mực các loại tăng 3,29% (tăng 1.576 tấn).

Sản lượng nuôi trồng: Tháng Tám ước đạt 29.054 tấn thủy sản các loại, giảm 7,06% so tháng trước (giảm 2.207 tấn), giảm 5,71% so cùng kỳ. So với tháng trước chỉ có sản lượng cá nuôi các loại tăng 35,44% (tăng 2.648 tấn), còn lại các loại khác đều giảm trong đó riêng tôm sú giảm 21,79% (giảm 1.512 tấn).

Tính chung 8 tháng sản lượng nuôi trồng đạt 158.733 tấn, đạt 65,32% kế hoạch, tăng 10,03% (tăng 14.474 tấn) so cùng kỳ, sản lượng tăng so với cùng kỳ chủ yếu là cá các loại tăng 11,22% (tăng 4.248 tấn), tôm các loại tăng 8,63% (tăng 4.697 tấn), trong đó tôm thẻ chân trắng tăng 7,79% (tăng 1.251 tấn).

Tính đến nay, tổng diện tích tôm thả nuôi được 125.655 ha, đạt 99,73% kế hoạch, tăng 0,2% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp 2.347 ha, đạt 75,71%, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến 29.578 ha, đạt 80,16% so kế hoạch.

Nguyên nhân sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước tháng 8/2019 giảm so tháng trước và giảm so cùng kỳ là do: Ngư trường khai thác bị thu hẹp, nguồn lợi thủy sản bị cạn dần, số ngày hoạt động chuyến biển đạt thấp, một số phương tiện phải chuyển đổi ngành nghề do thiếu lao động, nhiều phương tiện không ra khơi do khai thác không hiệu quả, sản lượng nuôi trồng giảm là do cuối mùa vụ diện tích thu hoạch giảm.

2. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Tháng Tám, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 3,80% so tháng trước, tăng 15,26% so cùng tháng năm trước. Trong đó, so với tháng trước, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,19%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 1,61%... Tính chung 8 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,61% so cùng kỳ. Trong đó ngành khai khoáng tăng 14,03%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,79%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 9,98%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,26%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng Tám ước đạt 4.201,06 tỷ đồng, tăng 3,80% so tháng trước, tăng 13,49% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng ước đạt 30.517,08 tỷ đồng, đạt 64,54% kế hoạch, tăng 9,86% so cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 29.645,32 tỷ đồng, chiếm 97,14%/Tổng giá trị SX toàn ngành, đạt 64,93% kế hoạch, tăng 9,81%.

Tính chung 8 tháng, các sản phẩm chủ yếu tăng khá so cùng kỳ năm trước như Tôm đông lạnh tăng 19,40%; mực đông lạnh tăng 10,32%; Xi măng Nhà nước tăng 7,99%; sản phẩm giày da tăng 21,24%; Gỗ MDF tăng 11,71%... Riêng sản phẩm Bia các loại giảm 10,06%; xay xát gạo giảm 2,71%...

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Tám bằng 88,12% so với tháng trước. Trong đó, ngành sản xuất trang phục tăng 3,30%; ngành chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 2,48%. Nhưng ngành sản xuất Clanhke chỉ bằng 49,46%; ngành sản xuất Xi măng bằng 81,72%...

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Tám tăng 18,36% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với tháng trước như ngành sản xuất Xi măng, chế biến thực phẩm ...

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2019 tăng 25,23% so với cùng thời điểm này năm trước, trong đó lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 29,11%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,26%; Riêng ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 26,12%.

3. Vốn đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng Tám ước đạt 214,19 tỷ đồng, tăng 3,27% so tháng trước và giảm 1,77% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ước đạt 1.972,89 tỷ đồng (theo số giải ngân Kho bạc đến 15/8/2019), đạt 35,65% kế hoạch, giảm 0,71% so cùng kỳ. Trong đó vốn cân đối ngân sách địa phương đạt 732,8 tỷ đồng, đạt 34,34% kế hoạch, giảm 26,30% so cùng kỳ, vốn TW hỗ trợ có mục tiêu đạt 538,30 tỷ đồng, đạt 48,04% kế hoạch, tăng 4,22%.

4. Thu, chi ngân sách

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Tám ước đạt 816,67 tỷ đồng, tăng  0,91% so tháng trước, tăng 25,24% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng tổng thu ngân sách ước đạt 7.400,69 tỷ đồng, đạt 70,89% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 4,98% so cùng kỳ. Trong đó: một số nguồn thu đạt cao như thu tiền sử dụng đất 1.069,05 tỷ đồng, đạt 106,9% dự toán, tăng 57,53% so cùng kỳ; thu thuế bảo vệ môi trường 443,93 tỷ đồng, đạt 73,99% dự toán, tăng 87,60%; thu thuế thu nhập cá nhân 697,79 tỷ đồng, đạt 69,78% dự toán, tăng 9,89% so cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết 1.227,85 tỷ đồng, đạt 90,95% dự toán, tăng 18,93% so cùng kỳ...Tuy nhiên, cũng còn một số khoản thu đạt thấp như thu tiền thuê mặt đất, mặt nước chỉ đạt 30,53% dự toán, bằng 24,53% cùng kỳ; Lệ phí trước bạ đạt 51,79% dự toán, bằng 85,49% cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng Tám ước chi 1.164,05 tỷ đồng, tăng 36,70% so tháng trước, tăng 34,30% so cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển 423,52 tỷ đồng, tăng 200,53% so tháng trước, tăng 263,35% so cùng kỳ; chi thường xuyên 740,53 tỷ đồng, tăng 15,65% so tháng trước, tăng 4,90% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng tổng chi ngân sách địa phương là 7.521,34 tỷ đồng, đạt 49,87% dự toán, tăng 7,12% so cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển 2.311,07 tỷ đồng, đạt 41,76% dự toán, tăng 12,27%; chi thường xuyên 5.210,27 tỷ đồng, đạt 58,63% dự toán, tăng 4,99%.

5. Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn và tín dụng tăng nhẹ, tổng nguồn vốn hoạt động ước đến 31/8/2019 đạt 89.700 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 7,41% so với đầu năm. Trong đó, số dư huy động vốn tại địa phương đạt 48.200 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước và tăng 4,95% so với đầu năm, chiếm 53,73% tổng nguồn vốn hoạt động.

Doanh số cho vay tháng 8/2019 ước đạt 11.000 tỷ đồng. Ước đến 31/8/2019, dư nợ cho vay đạt 75.000 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước và tăng 9,30% so với đầu năm. Dư nợ xấu ước 600 tỷ đồng, chiếm 0,80%/tổng dư nợ.

Hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng trên địa bàn khá ổn định. Tỷ giá vàng và ngoại tệ diễn biến theo xu hướng chung của cả nước và thế giới.

6. Thương mại - dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng Tám ước đạt 9.056,66 tỷ đồng, tăng 1,32% so tháng trước, tăng 9,17% so cùng tháng năm trước. Tính chung 8 tháng ước thực hiện 71.366,31 tỷ đồng, đạt 65,96% kế hoạch, tăng 10,08% so cùng kỳ. Chia theo ngành hoạt động

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Tám ước tính 6.735,81 tỷ đồng, tăng 1,91% so tháng trước, tăng 10,30% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng ước đạt 52.667,50 tỷ đồng, đạt 66,67% kế hoạch, tăng 10,42% so cùng kỳ. Trong đó tăng cao nhất là nhóm hàng vật liệu xây dựng tăng 14,07%; nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,94% và nhóm ngành hàng may mặc, giày dép tăng 10,08%, bán lẻ đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,84%, vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 10,56%... là do nhu cầu tiêu dùng cho kỳ tựu trường năm học mới.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Tám ước tính 1.312,82 tỷ đồng, tăng 3,50% so tháng trước, tăng 7,47% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước 10.210,89 tỷ đồng, đạt 65,88% kế hoạch, tăng 9,21% so cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng Tám đạt 36,78 tỷ đồng, giảm 10,46% so tháng trước, tăng 12,10% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng được 314,24 tỷ đồng, đạt 62,85% kế hoạch, tăng 13,10% so cùng kỳ.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước thực hiện 971,25 tỷ đồng, giảm 4,68% so tháng trước, tăng 3,91% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng ước được 8.173,68 tỷ đồng, đạt 61,92% kế hoạch, tăng 8,87% so cùng kỳ.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tám ước đạt 61,61 triệu USD, tăng 8,20% so với tháng trước, nhưng chỉ bằng 72,93% so cùng kỳ. Trong đó hàng nông sản giảm 0,57% so tháng trước, tăng 23,82% so cùng kỳ; hàng thủy hải sản tăng 16,88% so tháng trước, nhưng chỉ bằng 58,51% so cùng kỳ; Nguyên liệu giày da tăng 5,15% so tháng trước, tăng 7,20% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng kim ngạch xuất khẩu ước tính 415,13 triệu USD, đạt 61,05% kế hoạch, tăng 1,27% so cùng kỳ. Trong đó hàng thủy hải sản đạt 63,70% kế hoạch, tăng 7,64%; hàng hóa khác đạt 149,53% kế hoạch, tăng 2,19 lần so cùng kỳ. Riêng hàng nông sản chỉ đạt 46,46% kế hoạch, bằng 72,33% so cùng kỳ.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Tám ước đạt 11,37 triệu USD, tăng 4,89% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng ước đạt 67,15 triệu USD, đạt 111,92% kế hoạch, tăng 21,57% so với cùng kỳ.

c. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám tăng 0,41% so với tháng trước; tăng 4,28% so với tháng tám năm 2018. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 9 nhóm hàng tăng so với tháng trước. Trong đó nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế tăng tăng cao nhất, tăng 3,21%;  nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,49%; nhóm hàng may mặc, giầy dép và mũ nón - văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,13%; nhóm hàng thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng 0,07%; kế đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống – giáo dục tăng 0,05%. Còn lại các nhóm hàng khác không tăng hoặc giảm nhẹ, dẫn đến chỉ số giá tháng tám tăng 0,41% so với tháng trước.

Chỉ số giá vàng: Tăng 6,11% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 21,51% và tăng 5,02% so với bình quân cùng kỳ. Giá vàng bình quân tháng 8/2019 là 4.184.000 đồng/chỉ

Chỉ số giá Đô la Mỹ: Giảm 0,05% so tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 1,18% và tăng 1,46% so với bình quân cùng kỳ. Giá USD bình quân tháng 8/2019 là 2.326.650 đồng/100 USD.

d. Vận tải

Vận tải hành khách tháng Tám ước đạt 7,56 triệu lượt khách, tăng 7,44% so tháng trước, tăng 5,94% so cùng kỳ; luân chuyển 468,176 triệu HK.km, tăng 7,56% so tháng trước, tăng 8,00% so cùng kỳ. Trong đó, so với tháng trước vận tải hành khách đường bộ tăng cao nhất 8,57%.

Tính chung 8 tháng vận tải hành khách ước đạt 57,93 triệu lượt khách, đạt 62,17% kế hoạch, tăng 7,08% so cùng kỳ; luân chuyển 4.047,41 triệu HK.km, đạt 73,72% kế hoạch, tăng 14,98% so cùng kỳ, trong đó so với cùng kỳ vận tải hành khách đường biển tăng 24,76%; Vận tải hành khách đường bộ tăng 6,12%.

Vận tải hàng hóa tháng Tám ước đạt 982 ngàn tấn, tăng 2,72% so tháng trước, tăng 7,44% so cùng kỳ; luân chuyển 134,56 triệu tấn.km, tăng 2,70% so tháng trước, tăng 7,51% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng vận tải hàng hóa ước đạt 8,13 triệu tấn, đạt 63,14% kế hoạch, tăng 9,97% so cùng kỳ; luân chuyển 1.106,72 triệu tấn.km, đạt 61,05% kế hoạch, tăng 11,08%, trong đó vận tải hàng hóa đường sông tăng 12,44%; Vận tải hàng hóa đường biển tăng 9,87%.

e. Du lịch

Tổng lượt khách du lịch tháng Tám ước đạt 736,71 ngàn lượt khách, chỉ bằng 77,28% so tháng trước, tăng 3,16% so cùng kỳ. Trong đó lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 350,25 ngàn lượt khách, bằng 81,64% so tháng trước, tăng 10,06% so cùng kỳ. (Số khách quốc tế đạt 46,95 ngàn lượt khách, giảm 8,39% so tháng trước, tăng 4,09% so cùng kỳ). Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch bao gồm khách cơ sở lưu trú du lịch phục vụ giảm 18,13% so tháng trước, tăng 11,43% so cùng kỳ và khách du lịch đi theo tour bằng 78,06%, giảm 8,25%.

Tính chung 8 tháng, tổng lượt khách du lịch ước đạt 6.133,22 ngàn lượt khách, đạt 73,89% kế hoạch, tăng 12,14% so cùng kỳ. Trong đó: Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 69,90% kế hoạch, tăng 16,69% so cùng kỳ; khách quốc tế đạt 80,35% kế hoạch, tăng 25,22%; Lượt khách du lịch đi theo tour đạt 94,92% kế hoạch, tăng 79,26%.

7. Một số tình hình xã hội

7.1 Giải quyết việc làm, đào tạo nghề

Tháng Tám giải quyết việc làm được 3.391 lượt lao động (trong tỉnh 1.561 lao động, ngoài tỉnh 1.823 lao động, xuất khẩu lao động 7). Tính chung 8 tháng đã giải quyết việc làm được 24.751 lượt người, đạt 70,72% kế hoạch (trong tỉnh 11.747 lao động, ngoài tỉnh 12.910 lao động, xuất khẩu lao động 94). Giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 1.082 lao động (luỹ kế  đến nay 6.493 lao động).

Trong tháng, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo được 1.302 người, nâng tổng số lao động được đào tạo lên 14.906 người, đạt 55,56% so kế hoạch.

7.2 Giáo dục

Báo cáo kết quả tốt nghiệp trung học phổ thông Quốc gia chính thức và hoàn thành hồ sơ thi THPT quốc gia năm 2019 đưa vào lưu trữ. Tiếp tục phối hợp tổ chức tư vấn tuyển sinh sau khi có kết quả thi THPT quốc gia. Tổ chức đánh giá ngoài cơ sở giáo dục Mầm non, Phổ thông theo kế hoạch. Tổ chức 3 lớp tập huấn chuyên đề giải toán trên máy tính cầm tay cho giáo viên Toán (THCS, THPT), giáo viên dạy các môn: Vật lý, Hóa học, Sinh học (THPT). Hướng dẫn tổ chức kỳ thi chọn đội tuyển tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia lớp 12 THPT và kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh giải toán trên máy tính cầm tay lớp 9, lớp 12. Triển khai kế hoạch thực hiện nhiệm vụ Quản lý chất lượng năm học 2019-2020.

7.3 Tình hình y tế

Trong tháng, các cơ sở y tế đã khám, điều trị bệnh cho 388.152 lượt người, điều trị nội trú 23.414 bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh chung 90,78%, Tỷ lệ khỏi bệnh 89,89%, tỷ lệ tử vong 0,11%. Số lượt khám chữa bệnh bằng YHCT hoặc kết hợp YHHĐ và YHCT là 52.734 lượt, chiếm 13,59% tổng số lượt khám chữa bệnh trong tháng.

Tình hình dịch bệnh trong tháng (từ ngày 16/7/2019 – 15/8/2019)

Bệnh Sốt xuất huyết và Hội chứng tay chân miệng tăng cao so với tháng trước (Sốt xuất huyết tăng cao ở huyện Phú Quốc, Hòn Đất, thành phố Hà Tiên, TP.Rạch Giá). Bệnh Sốt xuất huyết có 539 cas mắc (tăng 297 cas so với tháng trước).Trong đó Sốt xuất huyết Dengue nặng 19 ca, tử vong 0 cas. Lũy kế có 1.759 cas mắc (tăng 804 cas so với cùng kỳ). Bệnh Tay chân miệng có 132 cas mắc (tăng 15 cas so tháng trước), tử vong 0 cas. Lũy kế có 1.158 cas mắc (tăng 829 cas so cùng kỳ).

Phòng chống HIV/AIDS trong tháng thực hiện xét nghiệm 7.021 mẫu máu, phát hiện mới 18 cas HIV dương tính. Số bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV mới là 27 bệnh nhân, trong đó có 03 trẻ em dưới 15 tuổi. Tính đến thời điểm báo cáo, số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 2.671 người, đang trong giai đoạn AIDS là 1.691 người.

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: Thực hiện thanh, kiểm tra 1.027 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, trong đó có 103 cơ sở còn hạn chế thiếu sót chưa đảm bảo theo quy định nhưng chưa đến mức độ phải xử lý (đã hướng dẫn, nhắc nhỡ thực hiện theo quy định).

Trong tháng xảy ra 20 cas ngộ độc thực phẩm, trong đó 19 cas ngộ độc do tác dụng của cồn và 01 cas ngộ độc do thực phẩm chế biến.

Theo ngành BHXH: đến tháng 8/2019, tỷ lệ người tham gia BHYT đạt 88,14% tăng 2,6% so tháng trước.

7.4 Hoạt động Văn hóa, Thể dục thể thao

Hoạt động Văn hóa, tập trung tuyên truyền, tổ chức các hoạt động phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị như tuyên truyền kỷ niệm 74 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2019) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2019), 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2019), 74 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945 -28/8/2019).  

Hoạt động Thể dục thể thao

Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Hội thao ngành Văn hóa và Thể thao tỉnh Kiên Giang năm 2019. Phối hợp tổ chức Giải Bóng chuyền nam, Karate và Hội thi Văn nghệ - Thể thao Người cao tuổi tỉnh Kiên Giang năm 2019.

Thể thao thành tích cao: Phối hợp tổ chức Giải đua Xe đạp Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ XVIII năm 2019 tranh Cúp Gạo Hạt Ngọc Trời (chặng 2, 3 và 4). Các đội tuyển thể thao duy trì tập luyện thường xuyên theo kế hoạch và tham dự các giải: Giải Vô địch Cờ vua trẻ xuất sắc toàn quốc tại Hải Phòng; Giải Vô địch Điền kinh trẻ quốc gia tại Đồng Nai; Giải Vô địch Cử tạ Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng lần thứ VIII năm 2019; Giải Bắn cung các đội mạnh toàn quốc tại Hà Nội.

7.5 Tai nạn giao thông

Tính từ ngày 16/7/2019 đến 15/8/2019 trên toàn tỉnh xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông, làm 3 người chết, 13 người bị thương. Trong đó số vụ tai nạn nghiêm trọng 7 vụ, làm 3 người chết, 7 người bị thương. So với tháng trước số vụ TNGT giảm 1 vụ, số người chết giảm 5 người, số người bị thương tăng 3 người. Tính chung 8 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 93 vụ tai nạn giao thông, làm 56 người chết, 62 người bị thương. Trong đó số vụ tai nạn nghiêm trọng là 70 vụ, làm 56 người chết và 38 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, giảm 40 vụ, giảm 33 người chết và giảm 23 người bị thương.

7.6 Tình hình cháy, nổ và thiên tai

Tình hình cháy nổ: Từ ngày 16/7/2019 đến 15/8/2019 toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, không có vụ nổ, không thiệt hại về người, ước thiệt hại vật chất 7 tỷ 100 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 18 vụ cháy, 01 vụ nổ làm 03 người chết, 03 người bị thương. Thiệt hại ước tính 25 tỷ 295 triệu đồng.

Tình hình thiên tai: Từ ngày 16/7 đến 15/8/2019 do ảnh hưởng của bão số 3 toàn tỉnh có mưa lớn kèm giông lốc xảy ra nhiều nơi, nhiều ngày đã gây ngập lụt và làm hư hỏng tài sản của nhân dân ở nhiều địa phương trong tỉnh. Cụ thể mưa lớn đã làm sập 89 căn nhà, tốc mái 185 căn, nứt nhà 23 căn; ngập 12.298 căn nhà; sạt lở 400m đê chắn sóng, sạt lở 110 m đường; chìm tại chỗ 3 tàu đánh cá công suất nhỏ; hư hại 01 cống, gãy hỏng 04 cầu, cuốn trôi 01 cầu; thiệt hại 11,12 ha hoa màu; làm chết và cuốn trôi 3.175 các loại gia súc, gia cầm; 97,6 km tuyến đường bị ngập dưới 1m và nhiều tài sản của nhân dân bị hư hỏng nặng. Ước tổng thiệt hại về vật chất khoảng 178 tỷ 267 triệu đồng, trong đó các huyện bị thiệt hại nặng nề nhất là Phú Quốc, An Minh, Châu Thành, An Biên. “Đặc biệt, theo thống kê sơ bộ, từ ngày 1- 9/8/2019, mưa lớn “kỷ lục” bất ngờ và kéo dài đã gây ngập nặng cục bộ trên huyện đảo Phú Quốc làm ngập hơn 63km đường với độ sâu từ 0,5-1m. Toàn huyện có khoảng 8.424 căn nhà bị ngập; 24 căn bị sập và tốc mái, nhiều vật dụng, tài sản của người dân bị ngập nước, hư hỏng. Tổng thiệt hại do ngập lụt gây ra hơn 107 tỷ đồng”.

Tính từ đầu năm đến nay, thiên tai xảy ra đã làm sập 127 căn nhà, tốc mái 247 căn nhà, ngập 12.298 căn nhà; sạt lở 400m đê chắn sóng, sạt lở 110m đường; chìm 01 động cơ và 101 tàu thuyền nhỏ, xuồng đò đang neo đậu tại bờ, hư hỏng 02 phương tiện, mất tích 02 phương tiện; hư hại 01 cống, gãy hỏng 04 cầu, cuốn trôi 01 cầu; thiệt hại 11,12 ha hoa màu; làm chết, cuốn trôi 3.175 các loại gia súc, gia cầm; 97,6km tuyến đường bị ngập dưới 1m; hư hỏng 01 lồng bè nuôi cá, 01 bè bán tạp hóa trên biển, tràn 02 ao cá; đổ ngã 07 trụ điện; sạt lở 10m giao thông nông thôn và sập hoàn toàn 02 cầu gỗ trên địa bàn huyện Phú Quốc và Kiên Hải. Ước tổng giá trị thiệt hại về vật chất khoảng 185 tỷ 354 triệu đồng./.

Số lần đọc: 336
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan