27.02.2020

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Vụ Mùa (2019 - 2020): Diện tích gieo trồng lúa mùa được 62.610 ha[1], đạt 94,86 % kế hoạch, giảm 2,29% (giảm 1.465 ha) so với vụ Mùa năm trước. Đến nay đã thu hoạch được 61.937 ha, năng suất ước tính đạt 5,10 tấn/ha.

Vụ Đông xuân (2019 - 2020): Lúa vụ Đông xuân, toàn tỉnh đã gieo trồng dứt điểm được 289.051 ha[2], vượt 0,02% kế hoạch. Thời tiết, mùa vụ lúa đông xuân năm nay không mấy thuận lợi, lũ năm 2019 ở mức thấp đã hạn chế lượng phù sa, hơn nữa mùa khô năm nay diễn ra sớm, sâm nhập mặn sâu và gay gắt, ngay từ cuối mùa mưa đã xảy ra hiện tượng sâm nhập mặn đã tác động rất lớn đến sản xuất lúa đông xuân, nhất là về năng suất. Tuy nhiên, trước tình hình trên tỉnh đã có sự chuẩn bị khá tốt để đối phó với hạn mặn, nên đã hạn chế đáng kể mức độ thiệt hại do hạn mặn gây ra, diện tích bị thiệt hại không nhiều.

Lúa đông xuân năm nay nhìn chung ít sâu bệnh gây hại hơn năm trước, đến nay diện tích bị nhiễm sâu bệnh là 49.691 ha, các đối tượng gây hại chủ yếu như: Bệnh cháy bìa lá 2.263 ha, đạo ôn lá 8.592 ha, rầy nâu 8.008ha, rầy phấn trắng 6.057 ha, sâu cuốn lá 1.895 ha, lem lét hạt 10.388 ha, ngoài ra còn các đối tượng gây hại khác như sâu đục thân, muỗi hành, nhện vé cũng xuất hiện ở một vài nơi và gây hại ở mức độ thấp.

Tính đến 15/02/2020 toàn tỉnh đã thu hoạch được 59.777 ha, năng suất trên diện tích đã thu hoạch ước tính đạt 6,50 tấn/ha.

Cây rau màu: Cùng với cây ăn trái, các loại cây rau màu đang được tỉnh định hướng là cây trồng cần được chuyển dịch tăng diện tích để giảm thế độc canh cây lúa. Thực tiễn cho thấy trồng rau màu mang lại hiệu quả hơn trồng lúa rất nhiều, nhưng trồng rau màu đòi hỏi phải có kỷ thuật và công chăm sóc nhiều hơn. Tuy diện tích các loại rau màu đang có xu hướng tăng lên, hầu hết các loại cây màu đều tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, nhưng nhiều loại rau màu diện tích trồng vẫn còn thấp, sản xuất chưa đủ cho nhu cầu tiêu thụ tại địa phương. Lĩnh vực này đang còn dư địa lớn để phát triển, ngành chức năng cần tích cực tuyên truyền và có sự tư vấn hỗ trợ cho nông dân, để nông dân chú trọng hơn đối với các loại cây trồng này. Một số cây rau màu chủ yếu vụ Đông xuân đến nay toàn tỉnh gieo trồng được như sau: Dưa hấu 541 ha, khoai lang 560 ha, khoai mì 65 ha, bắp 78 ha, rau đậu các loại 3.086 ha. So với cùng kỳ năm trước, diện dưa hấu tăng 35,25%; khoai lang tăng 22,00%; khoai mỳ tăng 25,00%; bắp tăng 4,00% và các loại rau đậu tăng 0,72%.

Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi đang hết sức khó khăn trước diễn biến của dịch bệnh, trong khi dịch tả heo châu Phi chưa dứt thì nguy cơ tái phát cúm gia cầm đã xuất hiện. Tuy tỉnh ta chưa xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm nào, nhưng nguy cơ rất lớn, cần phải có biện pháp phòng tránh hữu hiệu để nông dân yên tâm ổn định và phát triển đàn gia cầm.

Đối với đàn heo, mặc dù giá heo đang ở mức rất cao và hiện nay dịch tả heo châu Phi tại tỉnh ta đã giảm đáng kể, đến nay đã có 123 xã và 14 huyện đã qua 30 ngày không phát sinh ổ dịch, đã có 6 huyện, Thành phố công bố hết dịch. Nhưng nguy cơ các ổ dịch tiếp tục phát sinh vẩn ở mức cao, vì vậy cần khuyến cáo nông dân thận trọng khi tái đàn, phải đảm bảo an toàn thì mới tái nuôi, đồng thời cần tiếp tục tập trung hướng dẫn các cơ sở và người chăn nuôi áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp phòng dịch như: cách ly, vệ sinh tiêu độc, khử trùng, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm soát vận chuyển, giết mổ động vật.

Tính từ ngày 18/5/2019 đến ngày 15/2/2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3.812 hộ chăn nuôi có heo mắc bệnh dịch tả heo châu Phi ở tại 713 ấp, khu phố, 129 xã, phường, thị trấn, thuộc 15 huyện, thành phố và  đã tiêu hủy 49.000 con heo.

b. Lâm nghiệp

Hiện nay, thời tiết đã vào giữa mùa khô, rất dễ xảy ra cháy rừng, ngành Kiểm lâm cần phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng và chính quyền địa phương, để tuyên truyền giáo dục và vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, đồng thời phải tăng cường tuần tra, kiểm soát rừng để hạn chế các vụ vi phạm chặt phá, lấn chiếm đất rừng.

Trong tháng đã xảy ra 2 vụ vi phạm chặt phá, lấn chiếm đất rừng (Phú Quốc 2 vụ) với diện tích thiệt hại khoảng 0,03 ha, tăng 01 vụ so với cùng kỳ.

c. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010): Tháng 02 ước tính đạt 2.011,08 tỷ đồng, giảm 1,39% so với tháng trước và giảm 1,10% so với cùng kỳ[3]năm trước. Tính chung 2 tháng, ước tính đạt 4.050,41 tỷ đồng, bằng 12,76% kế hoạch năm, tăng 2,05% so cùng kỳ[4] năm trước.

Sản lượng thủy sản (cả khai thác và nuôi trồng): Tháng 02 ước tính đạt 61.353 tấn, tăng 4,77% so với tháng trước (tăng 2.796 tấn) và tăng 2,18% (tăng 1.310 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đạt 119.910 tấn, giảm 0,69% (giảm 829 tấn) so cùng kỳ năm trước và bằng 15,88% kế hoạch năm.

Sản lượng khai thác: Ước tính đạt 48.284 tấn, tăng 6,10% so tháng trước (tăng 2.778 tấn), tăng 5,22% so cùng kỳ (tăng 2.394 tấn). Tính chung 2 tháng ước tính được 93.790 tấn, đạt 18,95% kế hoạch, giảm 1,83% (giảm 1.746 tấn) so cùng kỳ năm trước. Trong đó cá các loại giảm 1,61% (giảm 1.159 tấn); tôm giảm 3% (giảm 170 tấn); mực giảm 0,09% (giảm 11 tấn).

Sản lượng nuôi trồng: Ước tính đạt 13.069 tấn, tăng 0,14% so với tháng trước và giảm 7,66% so cùng kỳ năm trước (giảm 1.084 tấn). Sản lượng nuôi trồng giảm chủ yếu là do người dân đã thu hoạch hết diện tích nuôi tôm để phục vụ nhu cầu dịp Tết Nguyên đán, hiện đang chuẩn bị thả nuôi mùa vụ mới. Tính chung 2 tháng ước tính sản lượng nuôi trồng thủy sản thu hoạch đạt 26.120 tấn, bằng 10,05% kế hoạch năm, tăng 3,64% (tăng 917 tấn) so cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá nuôi 8.924 tấn, tăng 3,42% (tăng 295 tấn) so với cùng kỳ năm trước và bằng 12,17% kế hoạch năm; tôm các loại 9.337 tấn, tăng 2,76% (tăng 251 tấn) so với cùng kỳ năm trước và bằng 10,98% kế hoạch năm.

2. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Tháng Hai, tăng 9,37% so tháng trước và tăng 17,92% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, so với tháng trước, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,61%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 1,12%...

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng Hai ước đạt 4.222,6 tỷ đồng, tăng 9,85% so tháng trước, tăng 25,94% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, so với tháng trước ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,61%, đạt 4.110 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 97,33% tổng giá trị sản xuất toàn ngành; ngành khai khoáng tăng 9,68%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 17,14%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 16,54%. Tính chung 2 tháng ước đạt 8.066,66 tỷ đồng, bằng 15,60% kế hoạch năm, tăng 5,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 7.825,76 tỷ đồng, chiếm 97,01%/tổng số, tăng 5,04%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước tăng 7,59%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,86%. Riêng ngành khai khoáng giảm 6,16%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng tăng so với cùng kỳ như tôm đông lạnh tăng 2,11%; mực đông tăng 2,70%; giày da tăng 38,36%; gỗ MDF tăng 13,05… Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm như, bia giảm 25,11%; gạch không nung giảm 20,71%; bột cá giảm 29,54%... Nguyên nhân một số mặt hàng giảm như, sản xuất bia giảm là do tác động của Nghị định 100/NĐ-CP làm cho nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh; gạch không nung chưa được thị trường ưa chuộng và mặt hàng bột cá thì thiếu nguyên liệu đầu vào để chế biến.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Hai bằng 95,53% so với tháng trước. Trong đó, ngành sản xuất trang phục tăng 15,46%; ngành sản xuất đồ uống tăng 10,27%; ngành chế biến thực phẩm bằng giảm 1,39%; ngành sản xuất Xi măng giảm 9,90%...

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Hai tăng 9,80% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với tháng trước như, ngành sản xuất Xi măng tăng 45,71%, chế biến thực phẩm tăng 21,70% ...

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/2/2020 tăng 39,26% so với cùng thời điểm này năm trước, trong đó lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 44,98%; ngành khai khoáng tăng 1,83%. Riêng ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt… giảm 1,62%.

3. Vốn đầu tư thực hiện (Vốn ngân sách nhà nước)

Đàu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các công trình/dự án chuyển tiếp, còn các công trình/dự án mới trong năm hầu như chưa khởi công mà đang trong quá trình chuẩn bị đầy tư. Do đó, ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 2 tháng chỉ đạt 110,62 tỷ đồng, bằng 1,81% kế hoạch cả năm và cũng chỉ bằng 56,68% cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn cân đối ngân sách địa phương 22,62 tỷ đồng, bằng 0,97% kế hoạch năm và cũng chỉ bằng 24,42% cùng kỳ năm trước; vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu 22,05 tỷ đồng, bằng 1,30% kế hoạch năm và bằng 22,48% cùng kỳ năm trước.

4. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Hai ước đạt 1.248,5 tỷ đồng, giảm 29,50% so tháng trước, tăng 27,94% so cùng kỳ. Trong đó thu nội địa 1.233,5 tỷ đồng, giảm 28,24% so với tháng trước, tăng 27,90% so cùng kỳ. Tính chung 2 tháng tổng thu ngân sách ước tính đạt 3.019,4 tỷ đồng, bằng 26,16% dự toán, tăng 21,35% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 2.952,47 tỷ đồng, đạt 25,99% dự toán, tăng 21,06% và chiếm 97,78% tổng thu. So với cùng kỳ năm trước, có một số khoản thu tăng khá cao[5], bên cạnh đó vẫn còn một số khoản thu đạt còn thấp như, thu lệ phí trước bạ chỉ bằng 90,12%; thu tiền sử dụng đất bằng 60,14%; thu từ doanh nghiệp nhà nước TW bằng 55,11%...

Tổng chi ngân sách địa phương tháng Hai ước chi 1.175,87 tỷ đồng, tăng 17,73% so với tháng trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển 377,98 tỷ đồng, tăng 401,6% so tháng trước; chi thường xuyên 797,89 tỷ đồng, chỉ bằng 88,19% mức chi của tháng trước. Tính chung 2 tháng, tổng chi ngân sách địa phương ước tính 2.174,69 tỷ đồng, nằng 13,19% dự toán năm, tăng 73,80% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển 472,1 tỷ đồng, đạt 12,35% dự toán và tăng 83,81% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên 1.702,58 tỷ đồng, đạt 18,43% dự toán và tăng 71,22% so với cùng kỳ năm trước.

5. Ngân hàng

Hoạt động tín dụng, huy động vốn trên địa bàn tỉnh trong tháng 2 vẫn ổn định. Ước tính đến 29/02/2020, một số chỉ tiêu đạt như sau:

Tổng nguồn vốn hoạt động 96.500 tỷ đồng, tăng 0,51% so với đầu năm và tăng 1,61% so với cuối tháng trước, trong đó vốn huy động tại địa phương 50.300 tỷ đồng (chiếm 52,12% tổng nguồn vốn hoạt động), giảm 0,43% so đầu năm nhưng tăng 0,72% so với tháng trước.

Doanh số cho vay trong tháng 2 đạt 11.500 tỷ đồng; dư nợ cho vay ước đạt 80.900 tỷ đồng, tăng 0,81% so đầu năm và tăng 1,27% so với tháng trước.

Nợ xấu nội bảng 700 tỷ đồng, chiếm 0,87% tổng dư nợ.

Hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng trên địa bàn khá ổn định. Tỷ giá vàng và ngoại tệ diễn biến theo xu hướng chung của cả nước và thế giới.

6. Thương mại - dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Từ khi Nghị định 100/NĐ-CP có hiệu lực đã tác động mạnh đến hoạt động dịch vụ ăn uống, bên cạnh đó, tình hình diễn biến phức tạp của dịch cúm Covid-19 xảy ra vào đầu tháng 2, trước yêu cầu phòng chống dịch, Chính phủ và Ban phòng chống dịch Trung ương yêu cầu hạn chế tiếp xúc nơi đông người, trước tình hình đó hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ của cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn.

Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 2 đạt 8.201,41 tỷ đồng, giảm 6,68% so với tháng trước, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước tính đạt 16.989,56 tỷ đồng, bằng 13,95% kế hoạch năm, tăng 6,95% so cùng kỳ. Chia theo ngành hoạt động như sau:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Hai ước đạt 5.719,15 tỷ đồng, giảm 7,89% so tháng trước, tăng 3,63% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng ước tính đạt 11.928,16 tỷ đồng, bằng 13,44% kế hoạch năm, tăng 8,53% so cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 2 ước tính đạt 1.362,38 tỷ đồng, giảm 2,99% so tháng trước, tăng 1,12% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng ước tính dạt 2.766,69 tỷ đồng, bằng 15,52% kế hoạch năm, tăng 2,19% so cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng 2 ước tính đạt 35,22 tỷ đồng, giảm 2,82% so với tháng trước và giảm 10,08% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng ước tính đạt 71,46 tỷ đồng, bằng 14,24% kế hoạch năm, giảm 6,86% so cùng kỳ.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 2 ước tính đạt 1.084,66 tỷ đồng, giảm 4,74% so với tháng trước, tăng 2,87% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng ước tính đạt 2.223,25 tỷ đồng, bằng 15,14% kế hoạch năm, tăng 5,33% so cùng kỳ năm trước.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 2 ước tính đạt 44,99 triệu USD, tăng 11,07% so với tháng trước và tăng 84,07% so cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, giá trị hàng nông sản tăng 29,30%; hàng thủy hải sản tăng 10,88%; nguyên liệu giày da tăng 2%. Tính chung 2 tháng giá trị xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 85,5 triệu USD, bằng 10,96% kế hoạch năm, tăng 22,23% so cùng kỳ năm trước.

 Các mặt hàng xuất khẩu 2 tháng đầu năm có tăng, giảm nhiều so cùng kỳ năm trước như, lượng gạo xuất tăng 2,05 lần (tăng 20.315 tấn); tôm đông tăng 31,46% (tăng 112 tấn); mực, bạch tuộc đông tăng 4,50%; cá cơm sấy tăng 54,90%... Riêng mặt hàng cá đông giảm 41,73%.  

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 2 ước đạt 5,64 triệu USD, chỉ bằng 27,02% giá trị nhập khẩu của tháng trước và tăng 13,85% so cùng tháng năm trước. Tính chung 2 tháng ước đạt 26,51 triệu USD, đạt 33,14% kế hoạch năm, tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu, chủ yếu vẫn là nguyên liệu dùng cho sản xuất.

c. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Hai năm 2020 tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 8,33% so với cùng tháng năm trước.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm tăng so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất tăng 0,80%; nhóm nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 0,43%; nhóm thiết bị và đồ dung gia đình tăng 0,14%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%; nhóm may mặc giày dép và mũ nón tăng 0,07%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0.05%... Có 3 nhóm hàng giảm đó là nhóm Giao thông giảm 2,60%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,12%; nhóm hàng văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,02%.

Chỉ số giá vàng: Tháng Hai tăng 2,55% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 20,14% và so với bình quân cùng kỳ tăng 19,64%. Giá vàng bình quân tháng 2 là 4.462.000 đồng/chỉ, tăng 111.000 đồng/chỉ so với tháng trước.

Chỉ số giá Đô la Mỹ: Tháng Hai tăng 0,31% so tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,20% và so với bình quân cùng kỳ tăng 0,09%. Giá USD bình quân tháng 2 năm 2020 là 2.331.200 đồng/100 USD, tăng 8.200 đồng/100 USD so với tháng trước.

d. Vận tải

Vận tải hành khách: Tháng 2 ước tính đạt 4,98 triệu lượt khách, giảm 2,01% so tháng trước, giảm 0,37% so cùng kỳ; luân chuyển 345,45 triệu HK.km, giảm 2,00% so tháng trước, giảm 1,26% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành vận tải đường biển và đường hàng không là giảm nhiều nhất. Tính chung 2 tháng vận tải hành khách ước tính đạt 10,07 triệu lượt khách, bằng 10,20% kế hoạch năm, giảm 0,29% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 697,94 triệu HK.km, bằng 10,75% kế hoạch năm, giảm 1,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Vận tải đường biển giảm 15,62%; đường bộ giảm 0,30% so cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa: Tháng 2 ước tính đạt 1,19 triệu tấn, giảm 5,38% so với tháng trước và giảm 0,58% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 172,8 triệu tấn.km, giảm 4,93% so tháng trước và giảm 0,62% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng, vận tải hàng hóa ước tính đạt 2,45 triệu tấn, bằng 17,55% kế hoạch năm, tăng 0,37% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 354,57 triệu tấn.km, đạt 17,90% kế hoạch năm, tăng 0,28% so cùng kỳ năm trước.

e. Du lịch

Hoạt động du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, nên lượng khách du lịch đến tỉnh ta trong tháng 2 đã giảm đáng kể đối với cả kháchquốc tế và khách nội địa.

Ước tính tổng lượt khách du lịch tháng 2 đạt 585,68 ngàn lượt khách, chỉ bằng 55,56% lượt khách của tháng trước và cũng chi bằng 66,07% lượng khách của cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 165,75 ngàn lượt khách, chỉ bằng 50,63% lượng khách tháng trước và cũng chỉ bằng 48,28% lượng khách của cùng kỳ năm trước. Trong số khách đến cơ sở kinh doanh du lịch thì khách quốc tế có 48,62 ngàn lượt khách, giảm 26,74% so tháng trước, giảm 44,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng ước tính 1.639,87 ngàn lượt khách, bằng 17,58% kế hoạch năm, tăng 16,37% so cùng kỳ năm trước. Trong đó lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 493,16 ngàn lượt khách, bằng 10,73% kế hoạch năm, giảm 21,47% so cùng kỳ năm trước (số khách quốc tế 114,99 ngàn lượt khách, bằng 15,33% kế hoạch năm, giảm 30,65% so cùng kỳ năm trước).

7. Một số tình hình xã hội

a. Lao động, giải quyết việc làm, đào tạo nghề

Tháng 2 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 3.537 lượt người[6], tăng 9% so với tháng trước, giảm 5,12% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng giải quyết việc làm cho 6.782 lượt người, đạt 19,38% so kế hoạch, giảm 2,35% so cùng kỳ,  trong đó trong tỉnh 3.534 lượt; ngoài tỉnh 3.226 lượt, xuất khẩu lao động 22 người.

Trong tháng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển sinh và đào tạo được 625 người, gồm sơ cấp 596 người, trung cấp 29 người, nâng tổng số lao động được đào tạo trong năm lên 830 người (trong đó sơ cấp 801 người, trung cấp 29 người), đạt 3,32% kế hoạch năm.

b. Giáo dục

Ngành giáo dục đã chủ động chỉ đạo các trường học tổ chức biên soạn nội dung hướng dẫn học sinh, sinh viên, học viên tự học trong thời gian nghỉ học để phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của Covid-19 gây ra. Thực hiện kiểm tra công nhận PCGD-XMC năm 2019 tại 3 huyện và hoàn thành hồ sơ đề nghị Bộ GDĐT công nhận PCGDTH, đồng thời tổ chức hội nghị tổng kết công tác PCGD THCS năm 2019. Tiến hành đánh giá ngoài và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia đối với 02 trường tiểu học trên địa bàn tỉnh. Phối hợp tổ chức Hội thảo giới thiệu sách giáo khoa lớp 1 năm học 2020-2021 đối với 4 bộ sách của NXBGDVN và 02 bộ sách Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.

c. Tình hình y tế

Trong tháng, các cơ sở y tế đã khám, điều trị bệnh cho 334.657 lượt người, (Trong đó KCB bằng BHYT là 172.747 người; Khám BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi là 12.175 trẻ), giảm 4.406 lượt so với tháng trước; điều trị nội trú 23.222 bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh chung 64,27%, Tỷ lệ khỏi bệnh 81,30%, tỷ lệ tử vong 0,05%. Số lượt khám chữa bệnh bằng YHCT hoặc kết hợp YHHĐ và YHCT 32.364 lượt, chiếm 9,94% tổng số lượt khám chữa bệnh trong tháng.

Tình hình dịch bệnh trong tháng (từ ngày 10/01/2020 – 10/2/2020):

Trong tháng, Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19) diễn ra phức tạp, nguy hiểm. Nhưng tại tỉnh ta, do chủ động trong phòng chống dịch nên đến nay toàn tỉnh chưa có cas nhiễm nào, riêng tại huyện Phú Quốc có 02 trường hợp người Trung Quốc nghi ngờ nhiễm bệnh đã được xét nghiệm và loại trừ. Hiện nay, tổng số lao động có quốc tịch người Trung Quốc đang làm việc tại tỉnh Kiên Giang 248 người. Có 234 người lao động quốc tịch Trung Quốc đã về nước trong dịp Tết nguyên đán Canh Tý 2020, hiện tại chưa quay lại làm việc tại các Công ty. Còn lại 14 người đang ở Việt Nam, Trong đó có 10 người ở lại làm việc tại các Công ty; 01 người về nước (Quảng Nam, Trung Quốc) và trở lại từ ngày 23/01/2020 đang ở Hà Nội. 01 người đang nghỉ phép ở TPHCM, 02 người ở (Hồ Nam, Trung Quốc), về nước ngày 21/01 và quay trở lại làm việc từ ngày 31/01 (Mùng 7 tết) đang làm việc tại công ty. Hiện các cơ quan chức năng đang theo dõi chặt chẽ tình hình sức khỏe của tất cả lao động người Trung Quốc đang làm việc trên địa bàn tỉnh.

Bệnh Sốt xuất huyết, Bệnh Tay chân miệng... có xu hướng giảm[7]. Các bệnh khác số mắc trong tháng so với tháng trước có chiều hướng tăng như Viêm gan virut (14/9 cas), cúm (153/87 cas); Lỵ trực tràng (9/3 cas). Các bệnh mắc trong tháng/so với tháng trước giảm như Sốt phát ban nghi sởi (55/64 cas), Thương hàn (01/03 cas).

Phòng chống HIV/AIDS trong tháng thực hiện xét nghiệm, sàng lọc 6.644 mẫu máu, phát hiện mới 30 cas HIV dương tính[8].

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: Thực hiện thanh, kiểm tra 1.811 cơ sở, có 1.488 cơ sở đảm bảo VSATTP theo quy định và 363 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP theo quy định, trong đó đã xử phạt tiền 2 cơ sở, tổng số tiền phạt 7 triệu đồng. Đã nhắc nhở và hướng dẫn cho 361 cơ sở còn có những hạn chế trong đảm bảo VSATTP nhưng chưa đến mức phải xử phạt vi phạm hành chính. Tiêu hủy sản phẩm vi phạm của 49 cơ sở, gồm 104 loại sản phẩm với khối lượng 400 kg thực phẩm quá hạn sử dụng, chứa hóa chất ngoài danh mục của Bộ Y tế.

Trong tháng, toàn tỉnh không ghi nhận cas ngộ độc thực phẩm nào.

d. Hoạt động Văn hóa, Thể dục thể thao

Hoạt động Văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao và gia đình phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, nhất là tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020), kỷ niệm 65 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 - 27/02/2020). Đặc biệt, tập trung tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) gây ra trong lĩnh vực văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Hoạt động Thể dục thể thao, Các đội tuyển thể thao duy trì tập luyện thường xuyên theo kế hoạch và tham dự 01 giải thể thao khu vực[9]. Chuẩn bị các điều kiện, cơ sở vật chất đăng cai tổ chức: Giải Billiards & Snooker vô địch quốc gia (vòng 1); Giải Thể dục Thể hình và Fitness trong khuôn khổ Đại hội Thể thao Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ VIII - Vĩnh Long năm 2020; Giải Chạy Vinpearl - Wow Marathon Phú Quốc tại huyện Phú Quốc.

e. Tai nạn giao thông

Tính từ ngày 15/1/2020 đến 14/2/2020 trên toàn tỉnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông, làm 6 người chết, 6 người bị thương, trong đó số vụ tai nạn nghiêm trọng 11 vụ, làm 6 người chết, 5 người bị thương. So với tháng 1/2020 số vụ TNGT tăng 5 vụ, số người chết tăng 3 người, số người bị thương giảm 1 người. So với cùng thời điểm năm trước, giảm 1 vụ TNGT, giảm 4 người chết, giảm 2 người bị thương. Tính chung 2 tháng đầu năm trên toàn tỉnh xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông, làm 9 người chết, 13 người bị thương. Trong đó số vụ TNGT nghiêm trọng là 16 vụ, 9 người chết và 10 người bị thương. So với năm trước, giảm 11 vụ, giảm 12 người chết và giảm 5 người bị thương. Tình hình tai nạn giao thông 2 tháng đầu năm 2020 đã giảm đáng kể sau khi Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2020.

f. Tình hình cháy, nổ và thiên tai

Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/1/2020 đến 14/2/2020 toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, không có vụ nổ, không thiệt hại về người, ước thiệt hại vật chất khoảng 1 tỷ 338 triệu (Đặt biệt vào khoảng 1 giờ sáng ngày 13/2, một vụ cháy xảy ra tại chợ Rạch Sỏi cũ (TP Rạch Giá) làm 6 ki ốt gồm có 1 ki ốt bán đồ trang sức bạc, 1 ki ốt bán hoa, 4 ki ốt bán các loại thực phẩm, gia vị, thuốc lá đã làm hàng hóa trong các ki ốt bị thiêu rụi hoàn toàn, ước thiệt hại trên 1 tỷ đồng).

Tính chung 2 tháng đã xảy ra 09 vụ nổ, 01 vụ cháy làm chết 2 người, bị thương 15 người, ước thiệt hại vật chất khoảng 6 tỷ 740 triệu đồng./.

Tải về: - Số liệu Kinh tế xã hội tháng 02 và 2 tháng đầu năm 2020 của tỉnh Kiên Giang

            - Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) tháng 02 năm 2020 của tỉnh Kiên Giang


[1] Lúa vụ Mùa (2019 – 2020) đã gieo trồng ở các huyện An Biên 17.432 ha, An Minh 25.763 ha,Vĩnh Thuận 9.968 ha, U Minh Thượng 7.151 ha, Gò Quao 1.640 ha và thành phố Hà Tiên 657 ha.

[2] Lúa Đông Xuân (2019 – 2020) đã gieo trồng ở các huyện Hòn Đất 80.000 ha, Tân Hiệp 36.803 ha, Châu Thành 18.745 ha, Giồng Riềng 46.654 ha, Gò Quao 25.249 ha, An Biên 8.323 ha, An Minh 100 ha, Vĩnh Thuận 4.770 ha, U Minh Thượng 9.460 ha, Giang Thành 29.450 ha, Kiên Lương 24.000 ha và TP Rạch Giá 5.497 ha,

[3] Chia ra: Giá trị khai thác tăng 6,36% so tháng trước, tăng 5,05% so cùng kỳ; giá trị nuôi trồng giảm 12,32% so tháng trước, giảm 1,12% so cùng kỳ.

[4] Chia ra: Giá trị khai thác đạt 15,81% kế hoạch, giảm 2,12%; nuôi trồng đạt 9,83% kế hoạch, tăng 9,29%.

 

[5] Thu từ XN có VĐT nước ngoài, đạt 23,75% dự toán, tăng 72,83% so cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết đạt 34,92% dự toán, tăng 15,65%; thu thuế khu vực công thương nghiệp ngoài NN đạt 23,73% dự toán, tăng 88,60%; Thu phí và lệ phí đạt 25,71% dự toán, tăng 7,87%.

[6] Trong đó trong tỉnh 1.843 lượt người, ngoài tỉnh 1.672 lượt người, xuất khẩu lao động 22 người.

[7] Sốt xuất huyết có 92 cas mắc (giảm 15 cas so với tháng trước, giảm 31 cas so cùng kỳ).Trong đó Sốt xuất huyết Dengue nặng 5 ca, tử vong 0. Tay chân miệng có 38 cas mắc (giảm 58 cas so với tháng trước, giảm 91 cas so cùng kỳ), tử vong 0.

[8] Số bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV mới là 30 BN (tích lũy 2.067 BN, trong đó người lớn có 1.968 người; trẻ em dưới 15 tuổi có 99 người). Tính đến thời điểm báo cáo, số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 2.888 người, trong giai đoạn AIDS là 1.731 người. Số người điều trị Methadone mới trong tháng là 125 người

[9] Giải Cờ vua trong khuôn khổ Đại hội Thể thao Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ VIII - Vĩnh Long năm 2020 (từ ngày 28/01/2020 - 04/02/2020 tại Đồng Tháp), kết quả: đạt 09 huy chương (04 HCV, 03 HCB và 02 HCĐ).

 

Số lần đọc: 419
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan