30.01.2019

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

* Vụ Mùa (2018-2019): Toàn tỉnh đã kết thúc gieo trồng với diện tích 64.075 ha, đạt 106,79% so với  kế hoạch, tăng 9,35 % so với cùng kỳ, tập trung ở các huyện như An Biên 17.462 ha, An Minh 26.713 ha,Vĩnh Thuận 9.964 ha, Gò Quao 1.324 ha, U Minh Thượng 7.917 ha và Hà Tiên 695 ha.           

 Diện tích lúa Mùa đến nay đã thu hoạch được 47.893 ha, bằng 81,73 % so với cùng kỳ, năng suất ước đạt 4,80 tấn/ha.

Diện  tích bị nhiễm sâu bệnh trên lúa mùa là 1.083 ha, chủ yếu là một số bệnh như đạo ôn lá 174 ha, rầy nâu 37 ha, cháy bìa lá 203 ha…

* Vụ Đông Xuân (2018-2019): Diện tích gieo trồng 288.381 ha, đạt 101,19% so với kế hoạch, bằng 99,45% so với cùng kỳ, tập trung ở các huyện như: Vĩnh Thuận 5.860 ha, U Minh Thượng 7.468 ha, An Biên 8.849 ha, An Minh 100 ha, Giang Thành 29.500 ha, Châu Thành 19.134 ha, Gò Quao 25.230 ha, Kiên Lương 23.500 ha, Hòn Đất 79.800 ha, Rạch Giá 5.437 ha, Tân Hiệp 36.803 ha và Giồng Riềng 46.700 ha. Diện tích đến nay đã thu hoạch được 5.310 ha, năng suất ước đạt 5,56 tấn/ha.

Diện  tích bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Đông xuân là 21.340 ha, chủ yếu một số bệnh như: đạo ôn lá 14.374 ha, rầy nâu 1.338 ha, cháy bìa lá 1300 ha…

* Cây rau màu

Diện tích một số cây màu khác cũng được nhân dân đầu tư sản xuất như: Dưa hấu 350 ha, giảm 18,61% so với cùng kỳ; Khoai lang 255 ha, tăng 10,87% so với cùng kỳ; Khoai mì 50 ha, tăng 51,51% so với cùng kỳ; Bắp 66 ha, giảm 7,04% so với cùng kỳ; Rau các loại 1.820 ha, tăng 22,97% so với cùng kỳ.

* Chăn nuôi

  Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tỉnh không có biến động nhiều so với thời điểm ngày 1-10 vừa qua; Hiện nay, nhà nước đang có nhiều chương trình dự án hỗ trợ vốn vay chăn nuôi trâu, bò cho nông dân dự kiến đàn trâu, bò sẽ tăng thời gian tới. Đàn heo, đàn gia cầm tăng nhẹ so với cùng kỳ một phần do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, giá bán sản phẩm tăng trở lại nên người nuôi cũng tăng thêm qui mô nuôi, tuy nhiên vẫn chỉ với hình thức nhỏ lẽ.

b. Lâm nghiệp

    Hiện nay thời tiết đang bước vào mùa khô, nên dễ xảy ra cháy rừng, ngành Kiểm lâm cần phối hợp với các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường tuần tra, kiểm soát phòng chống cháy rừng, đồng thời duy trì thường xuyên công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, chống chặt phá rừng.Trong tháng còn xảy ra 04 vụ vi phạm chặt phá rừng (huyện Kiên Hải) với diện tích khoản 0,0462 ha, tăng 03 vụ so với cùng kỳ.

c. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010): Tháng Một ước tính 1.884,1 tỷ đồng, bằng 87,2% so tháng trước, tăng 9,46% so cùng tháng năm trước. Trong đó: giá trị khai thác 1.298,93 tỷ đồng, giảm 7,01% so tháng trước, tăng 5,83% so cùng kỳ;  giá trị nuôi trồng 585,17 tỷ đồng, giảm 23,38% so tháng trước, tăng 18,48% so cùng tháng năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản (cả khai thác và nuôi trồng): Tháng Một ước đạt 60,24 ngàn tấn, giảm 4,26% so tháng trước (giảm 2.681 tấn), tăng 7,21% (tăng 4.051 tấn) so cùng tháng năm trước. Bao gồm:

Sản lượng khai thác: ước đạt 49,58 ngàn tấn thủy hải sản các loại, tăng 0,81% so tháng trước, tăng 6,62% so cùng tháng năm trước (tăng 3.077 tấn). Trong đó: Cá các loại tăng 2,72% (tăng 983 tấn) so với tháng trước, tăng 7,33% so cùng kỳ; Tôm giảm 9,53% (giảm 309 tấn), tăng 2,05 %; Mực giảm 2,88% (giảm 183 tấn), tăng 4,95%.

Sản lượng nuôi trồng: ước đạt 10,65 ngàn tấn, giảm 22,42% (giảm 3.079 tấn) so tháng trước, tăng 10,06% so cùng tháng năm trước (tăng 974 tấn).

Nguyên nhân sản lượng nuôi trồng trong tháng giảm so với cùng kỳ là do đã kết thúc thời vụ, nhân dân đang cải tạo ao vuông nhằm phục vụ cho mùa vụ nuôi tiếp theo.

2. Công nghiệp

   Chỉ số sản xuất công nghiệp: Tháng Một, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 3,16% so tháng trước, tăng 7,27% so cùng tháng năm trước. So với tháng trước, ngành tăng cao nhất là ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 5,15%; kế đến là ngành chế biến, chế tạo tăng 3,17%, trong đó: ngành sản xuất đồ uống tăng 7,57%, ngành chế biến thực phẩm tăng 5,47%...; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 0,48%; ngành khai khoáng giảm 0,76%.

   Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng Một, ước đạt 4.577,41 tỷ đồng, tăng 3,16% so tháng trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 4.392,71 tỷ đồng, tăng 3,22%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 63,78 tỷ đồng, tăng 5,15%; ngành khai khoáng 31,53 tỷ đồng, giảm 0,76%.

Một số sản phẩm công nghiệp trong tháng có mức tăng khá cao so với tháng 12 năm 2018 như: Mực đông tăng 7,69%; cá đông tăng 4,99%; tôm đông tăng 6,85%; giày dép da tăng 3,35%; Bia các loại tăng 10,3%...Nhìn chung mức sản xuất sản phẩm các ngành công nghiệp trong tháng đầu năm 2019 đạt khá so với kế hoạch cũng như so với năm trước. Tuy nhiên, dự kiến tình hình sản xuất đối với ngành công nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức trong năm 2019 cụ thể như ngành sản xuất xi măng do các nhà máy đã sản xuất gần như đạt đến công suất thiết kế nên sẽ tăng trưởng chậm lại và rất khó tăng trưởng thêm cho những năm tiếp theo. Các nhà máy mới đầu tư đi vào hoạt động ở các khu công nghiệp nhưng đang rất thiếu nguồn lao động có chuyên môn cao và kinh nghiệm nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp.

    Chỉ số tiêu thụ  ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Một bằng 88,14% so với tháng trước. Trong đó, ngành sản xuất đồ uống tăng 9,32%; ngành sản xuất trang phục tăng 4,13%... Riêng ngành sản xuất xi măng chỉ bằng 78,35%.

    Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Một tăng 13,56% so với tháng 12 năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng nhiều so với tháng trước như: chế biến thực phẩm tăng  18,10%; sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng tăng 44,58%... còn lại các ngành khác tăng nhẹ hoặc không tăng.

   Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/1/2019 giảm 7,36% so với cùng thời điểm này năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 6,51%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 7,92%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 1,77%.

3. Vốn đầu tư

Trong tháng 01/2019, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý chủ yếu thực hiện giải ngân vốn cho các công trình đã hoàn thành của năm 2018, tháng 01 ước chỉ đạt 19,35 tỷ đồng, đạt 0,35% kế hoạch, chỉ bằng 1,18% so với tháng 12/2018.

4. Thu, chi ngân sách

   Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng  Một ước đạt 1.336,66 tỷ đồng, đạt 12,8% so dự toán, tăng 31,59% so cùng kỳ năm trước. Trong đó các khoản thu đạt cụ thể như: thu từ doanh nghiệp nhà nước TW được 37,5 tỷ đồng, đạt 8,93% dự toán, tăng 13,73 % so với cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất 499,34 tỷ đồng, đạt 49,93% dự toán, tăng hơn 6 lần so với cùng kỳ;  thu xổ số kiến thiết 170 tỷ đồng, đạt 12,59% dự toán, tăng 23,55% so cùng kỳ.

  Tổng chi ngân sách địa phương tháng Một ước tính 954,77 tỷ đồng, đạt 6,33% dự toán năm, tăng 38,93% so cùng kỳ năm 2018. Trong đó, chi thường xuyên 935,42 tỷ đồng, đạt 10,79% dự toán, tăng 2,43 lần so với cùng kỳ; chi đầu tư phát triển 19,35 tỷ đồng, đạt 0,53% dự toán, chỉ bằng 6,38% so cùng kỳ.

5. Ngân hàng

    Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh trong tháng 01/2019 ổn định. Hoạt động tín dụng, huy động vốn diễn biến phù hợp tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trước tết Nguyên đán (tín dụng tăng, huy động vốn giảm nhẹ). Vốn huy động tại địa phương giảm trên tất cả các kỳ hạn và loại tiền. Ước đến 31/01/2019, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 83.400 tỷ đồng, giảm 0,14% so với tháng 12/2018. Trong đó vốn huy động tại địa phương đạt 45.700 tỷ đồng, giảm 0,50% so với tháng 12/2018, chiếm 54,80% tổng nguồn vốn hoạt động.

   Hoạt động tín dụng tăng khá. Ước đến 31/01/2019, doanh số và dư nợ tín dụng đạt cụ thể như sau: Doanh số cho vay trong tháng 01/2019 ước đạt 12.500 tỷ đồng. Trong đó: Cho vay ngắn hạn là 9.200 tỷ đồng, chiếm 73,60% doanh số cho vay; Cho vay trung và dài hạn là 3.300 tỷ đồng, chiếm 26,40% doanh số cho vay.

Dư nợ cho vay ước đạt 69.600 tỷ đồng, tăng 1,43% so với tháng 12/2018.

Nợ xấu tiếp tục duy trì tỷ lệ an toàn. Đến 31/01/2019, nợ xấu nội bảng 600 tỷ đồng, chiếm 0,86%/tổng dư nợ. Nợ tổn thất (nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro và đang theo dõi ngoại bảng) 650 tỷ đồng.

Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Kiên Giang tiếp tục thực hiện giải ngân cho vay đối với các chương trình tín dụng chính sách xã hội trọng điểm. Ước đến 31/01/2019, dư nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Kiên Giang đạt 3.080 tỷ đồng, tăng nhẹ so với tháng 12/2018, chiếm tỷ trọng 4,43%/tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn. Nợ xấu 76 tỷ đồng (trong đó nợ khoanh là 38 tỷ đồng), tỷ lệ nợ xấu là 2,47%.

Toàn tỉnh có 22 QTDND đang hoạt động. Ước đến 31/01/2019, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.120 tỷ đồng, tăng 0,36% so với tháng 12/2018. Trong đó, Vốn huy động đạt 695 tỷ đồng, chiếm 62,05% tổng nguồn vốn; Vốn vay tại Ngân hàng Hợp tác xã và TCTD khác ước 282 tỷ đồng, chiếm 25,18% tổng nguồn vốn; Vốn khác 143 tỷ đồng, chiếm 12,77% tổng nguồn vốn; Dư nợ cho vay ước đạt 970 tỷ đồng, tăng 0,52% so với tháng 12/2018; Nợ xấu ước 7 tỷ đồng, tỷ lệ 0,72%. Dư nợ QTDND chiếm tỷ lệ 1,39%/tổng dư nợ toàn địa bàn.

6. Thương mại - dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

   Dự kiến tháng Một, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 8.576,76 tỷ đồng, đạt 7,80% kế hoạch năm, tăng 3,99% so tháng trước, tăng 4,46% so với cùng tháng năm trước. Chia theo ngành hoạt động

   Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước thực hiện 6.158,95 tỷ đồng, tăng 4,35% so tháng trước, tăng 2,67% so cùng kỳ. Các trung tâm mua sắm, cửa hàng, siêu thị khác vẫn tiếp tục đưa ra những chương trình  khuyến mãi giảm giá, nhằm  kéo sức mua tăng lên, lượng hàng hóa dồi dào phong phú, kể cả ở các siêu thị và các chợ truyền thống đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của nhân dân dịp tết Nguyên đán Kỷ Hợi.

 Các doanh nghiệp tổ chức đưa hàng bình ổn giá về vùng sâu, biên giới, hải đảo nhằm phục vụ kịp thời bà con nhân dân tại những nơi này.

    Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống: Ước thực hiện 1.312,28 tỷ đồng, tăng 2,86% so tháng trước, tăng 9,09% so cùng kỳ; trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 380,67 tỷ đồng tăng 2,65% so tháng trước và doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 931,61 tỷ đồng tăng 2,94% so tháng trước.

   Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 30,98 tỷ đồng, giảm 2,81% so tháng trước, tăng 3,08% so cùng kỳ.

   Doanh thu hoạt động dịch vụ khác thực hiện 1.074,55 tỷ đồng, tăng 3,52% so tháng trước, tăng 9,74% so với cùng kỳ. Hầu hết doanh thu các loại hình dịch vụ đều tăng so với tháng trước và tăng cả so với cùng kỳ năm trước.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

    Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Một ước đạt 46,04 triệu USD, tăng 2,74% so với tháng trước, tăng 9,00% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Hàng nông sản 4,56 triệu USD, tăng 10,82% so tháng trước, nhưng chỉ bằng 31,32% so cùng kỳ; hàng thủy sản 21,5 triệu USD, tăng 0,43% so tháng trước, tăng 59,76% so cùng kỳ; Nguyên liệu giày da 18,11 triệu USD, tăng 3,00% so tháng trước, tăng 50,97% so cùng kỳ năm trước.

   Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Một ước đạt 4,56 triệu USD, bằng 60,32% so với tháng trước, tăng 28,45% so cùng kỳ năm 2018.

c. Chỉ số giá

   Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Một năm 2019 giảm -0,32% so với tháng trước; tăng 3,39% so với tháng 01 năm 2018. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 7 nhóm hàng tăng so với tháng trước đó là nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,39%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,24%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18%; nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,12%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07% và hàng hóa khác tăng 0,12% ... Bên cạnh đó, có 2 nhóm hàng giảm, trong đó nhóm giao thông giảm nhiều nhất -3,43%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm -1,49%. Còn lại các nhóm hàng khác không tăng, dẫn đến chỉ số CPI tháng 1/2019 giảm -0,32% so với tháng 12 năm 2018.

   Chỉ số giá vàng: Tăng so với tháng trước (+1,61%), so với cùng tháng năm trước tăng (+1,44%) và tăng (+1,44%) so với bình quân cùng kỳ. Giá vàng bình quân tháng 01/2019 là 3.652.000 đồng/chỉ, tăng 58.000 đồng/chỉ so tháng trước.

Chỉ số giá Đô la Mỹ: Giảm so với tháng trước (-0,34%), so với cùng tháng năm trước tăng (+2,39%). Giá USD bình quân tháng 01/2019 là 23.245 đồng/1 USD, giảm 80 đồng/1 USD so với tháng trước.

 d. Vận tải

     Vận tải hành khách: Tháng Một ước đạt 6,66 triệu lượt khách, tăng 15,39% so tháng trước, tăng 2,81% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 482,5 triệu HK.km, tăng 20,84% so tháng trước, tăng 7,05% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm vận tải hành khách đường bộ 5,36 triệu lượt khách, tăng 25,0% so tháng trước; luân chuyển 381,29 triệu lượt khách.km, tăng 27,93%; vận tải hành khách đường sông 1,05 triệu lượt khách, giảm 16,64% ; Luân chuyển 67,12 triệu lượt khách.km, giảm 4,31%; Vận tải hành khách đường biển 0,249 triệu lượt khách, tăng 12,27%; Luân chuyển 34,09 triệu lượt khách.km, tăng 9,65%.

    Vận tải hàng hóa: Tháng Một ước đạt 1.184 ngàn tấn, tăng 6,78% so tháng trước, tăng 11,09% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 135,01 triệu tấn.km, tăng 8,04% so tháng trước, tăng 5,21% so với cùng kỳ. Gồm vận tải hàng hóa đường bộ 411 ngàn tấn, tăng 12,71% so với tháng trước; luân chuyển 46,53 triệu tấn.km, tăng 3,10%; Vận tải hàng hóa đường sông 395 ngàn tấn, tăng 6,12% ; luân chuyển 48,04 triệu tấn.km, tăng 6,44%; vận tải hàng hóa đường biển 378 ngàn tấn, tăng 1,61% ; luân chuyển 40,44 triệu tấn.km, tăng 16,55%.

   Các ngành chức năng tăng cường công tác tổ chức, quản lý các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp trước và sau Tết Nguyên Đán sắp tới.

e. Du lịch

   Tổng lượt khách du lịch trên địa bàn tháng Một ước tính đạt 550,01 ngàn lượt khách, giảm 2,12% so tháng trước, tăng 42,21% so cùng kỳ năm 2018. Trong đó:

   Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 300 ngàn lượt khách, bằng 90,66% so với tháng trước, tăng 42,46% so với cùng kỳ. (Số khách quốc tế đạt 57,96 ngàn lượt khách, tăng 29,17% so với tháng trước, giảm 1,62% so với cùng kỳ).

  Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch bao gồm: khách cơ sở lưu trú du lịch phục vụ đạt 274,03 ngàn lượt khách, bằng 90,55% so với tháng trước, tăng 39,04% so với tháng 1/2018 và khách du lịch đi theo tour đạt 25,97 ngàn lượt khách, giảm 8,13% so tháng trước, tăng 92,39% so với tháng 1/2018.

7. Một số tình hình xã hội

7.1 An sinh xã hội và giải quyết việc làm, đào tạo nghề

     Trong tháng đã giải quyết việc làm cho 3.217 lượt lao động, trong đó: trong tỉnh 1.628 lượt lao động, ngoài tỉnh 1.560 lượt lao động, xuất khẩu 29 lao động. Chấp thuận nhu cầu sử dụng người nước ngoài cho 02 vị trícông việc/02 đơn vị có nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài (trong đó cấp mới 02 giấy phép lao động). Giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 603 lao động. Tổ chức kiểm tra, khảo sát đánh giá, tổng hợp tình hình lao động, tiền lương, tiền thưởng vào dịp tết dương lịch và tết Nguyên đán tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

    UBND tỉnh trình Chủ tịch nước chúc thọ, mừng thọ 47 người cao tuổi tròn 100 tuổi năm 2019 trên địa bàn tỉnh. Trung tâm Bảo trợ xã hội chăm sóc, quản lý tốt 220 đối tượng, công tác khám, cấp thuốc điều trị ban đầu cho đối tượng được thực hiện thường xuyên. Trong tháng tiếp 65 lượt khách đến thăm và tặng quà, ghi sổ gồm tiền mặt: 91,430 triệu đồng; hàng hoá thực phẩm quy ra giá trị trên 102,5 triệu đồng.

7.2 Giáo dục

     Giáo dục mầm non: Tổ chức sơ kết học kỳ I năm học 2018- 2019 và xây dựng kế hoạch phương hướng, nhiệm vụ học kỳ II năm học 2018- 2019. Quyết định công nhận lại 15/15 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, tại thời điểm tháng 12 năm 2018.

     Giáo dục Tiểu học: UBND tỉnh quyết định và cấp bằng công nhận 02 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia năm 2018. Tổ chức cuộc thi: Đồ dùng dạy học tự làm cấp tiểu học; Cuộc thi tiếng Anh tiểu học - “Rung Chuông vàng” chuẩn bị cho Ngày Hội Giáo dục lần thứ V năm 2019.

    Giáo dục Trung học: Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2018-2019 tại 01 trường THCS trên địa bàn tỉnh. Tổ chức tập huấn cho giáo viên 09 môn học (Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, GDCD, tiếng Anh) cấp THPT về xây dựng và sử dụng đề thi trên mạng internet. Xây dựng kế hoạch tuyển sinh vào lớp 6, lớp 10 năm học 2019-2020. 

7.3 Tình hình y tế

     Trong tháng, các cơ sở y tế trong tỉnh đã khám, điều trị bệnh cho 339.063 lượt người; điều trị nội trú 22.836 bệnh nhân; công suất sử dụng giường bệnh chung 87,32%; Tỷ lệ khỏi bệnh 81,42%, tỷ lệ tử vong 0,12%.

Số lượt khám chữa bệnh bằng Y Học Cổ truyền hoặc kết hợp YH hiện đại và YHCT là 43.905 lượt, chiếm 13,82%/ tổng số lượt khám chữa bệnh trong tháng.

Tình hình dịch bệnh trong tháng (từ ngày 17/12/2018 – 15/01/2019)

Bệnh Sốt xuất huyết: Toàn tỉnh ghi nhận có 140 cas mắc, giảm 50 cas so với tháng trước, so với cùng kỳ năm 2018 tăng 90 cas.

Bệnh Tay Chân Miệng: Có 288 cas mắc, giảm 141 cas so với tháng trước, không có tử vong; so với cùng kỳ tăng 236 cas.

Các bệnh truyền nhiễm khác: Bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm cụ thể số cas mắc như sau: Thương hàn 6 cas, Sởi 02 cas.

Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng thực hiện xét nghiệm 7.253 mẫu máu, phát hiện mới 32 cas HIV dương tính. Điều trị ARV cho 35 bệnh nhân HIV/AIDS, trong đó không có  trẻ em dưới 15 tuổi. Tổng số bệnh nhân đang điều trị ARV là 1.718 người, trong đó có 103 trẻ dưới 15 tuổi. Tính đến thời điểm báo cáo, số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 2.555 người, đang trong giai đoạn AIDS là 1.687 người. Số người điều trị Methadone mới trong tháng là 03 người.

Phòng, chống các bệnh xã hội và bệnh nguy hiểm cho cộng đồng

Trong tháng số bệnh nhân phong phát hiện mới 01 BN, số BN điều trị là 05 BN. Số BN quản lý điều trị 392 BN.

Tổng số bệnh nhân Lao quản lý điều trị là 206 BN. Điều trị khỏi bệnh 188 BN. Số lam kính xét nghiệm là 3.111 lam. Số bệnh nhân tử vong la 04 người.

Phát hiện mới bệnh nhân tâm thần phân liệt là 02 BN, động kinh là 02 BN, tổng bệnh nhân quản lý trong tháng là 04BN.

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: Thực hiện thanh tra, kiểm tra 495 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, trong đó có 15 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP, qua đó đã xử lý 02 cơ sở, với số tiền 33,7 triệu đồng, nhắc nhở và hướng dẫn 13 cơ sở hoàn thành tốt việc đảm bảo an toàn thực phẩm.

Trong tháng xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 12 cas mắc do nhiễm vi sinh trong thực phẩm tại ấp Kiên Hảo, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất.

7.4 Hoạt động Văn hóa, Thể dục thể thao

     Hoạt động Văn hóa Trong tháng, tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, nhất là tuyên truyền kỷ niệm 73 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946 - 06/01/2019); kỷ niệm 69 năm Ngày truyền thống Học sinh, sinh viên và Hội sinh viên Việt Nam (09/01/1950 - 09/01/2019); tham gia các hoạt động “Tết Quân - Dân” năm 2019.

Triển khai tổ chức các hoạt động Mừng Đảng - Mừng Xuân năm 2019 và Lễ hội đón Giao thừa tết Nguyên đán Kỷ Hợi tại thành phố Rạch Giá.

    Hoạt động Thể dục thể thao

Thể dục thể thao quần chúng: Phối hợp tổ chức Giải Việt dã leo núi Hòn Đất tỉnh Kiên Giang năm 2019 nhân dịp Lễ kỷ niệm 57 năm Ngày hy sinh của Anh hùng LLVTND Phan Thị Ràng (09/01/1962 - 09/01/2019) tại huyện Hòn Đất; với 694 vận động viên đến từ 23 đơn vị thuộc các cơ quan, ban ngành, các huyện trong tỉnh; thu hút khoảng 1.500 lượt người xem và cổ vũ. Xây dựng kế hoạch tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân tỉnh Kiên Giang năm 2018.

Các huyện, thành phố tổ chức các giải thi đấu thể dục thể thao như: Bóng đá, bóng chuyền, quần vợt, đá cầu lưới, cầu lông, cờ tướng, bóng bàn, dẫn bóng qua cọc, ném bóng vào rổ, kéo co, đua thuyền truyền thống, thể hình... nhân dịp kỷ niệm 73 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946 - 06/01/2019); kỷ niệm 69 năm Ngày truyền thống Học sinh, sinh viên và Hội sinh viên Việt Nam (09/01/1950 - 09/01/2019); các hoạt động Mừng Đảng - Mừng Xuân năm 2019; phục vụ hàng ngàn lượt người đến xem và cổ vũ.

          Thể thao thành tích cao: Duy trì tập luyện thường xuyên các đội tuyển thể thao theo kế hoạch.

7.5 Tai nạn giao thông

     Tính từ ngày 16/12/2018 đến 15/01/2019 trên toàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, làm 11 người chết, 10 người bị thương. Trong đó số vụ TNGT nghiêm trọng 10 vụ, làm 11 người chết, 3 người bị thương. So với tháng trước số vụ TNGT giảm 4 vụ, số người chết không tăng, không giảm, số người bị thương giảm 6 người; so với cùng kỳ năm 2018 số vụ TNGT giảm 6 vụ, giảm 11 người chết, giảm 4 người bị thương (riêng đường bộ xảy ra 16 vụ, chiếm 94,12%/tổng số vụ, giảm 6 vụ, giảm 11 người chết, giảm 4 người bị thương so với tháng 1/2018).

7.6 Tình hình cháy, nổ và thiên tai

      Tình hình cháy nổ: Từ ngày 16/12/2018 đến 15/01/2019 toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy; nguyên nhân gây cháy do sự cố thiết bị điện 2 vụ, 2 vụ do mâu thuẫn gia đình, tranh chấp tự đốt; ước tính số tiền thiệt hại trên 1 tỷ 124 triệu đồng. Không có vụ nổ nào xảy ra, không có thương vong về người. Đặc biệt, vào lúc 16 giờ chiều 13/1, trên một đoạn kênh Ông Hiển, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, tàu đánh cá mang biển kiểm soát KG-1948TS của ông Lưu Văn Hầu (sinh năm 1966) đang neo đậu trên kênh Ông Hiển, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để sửa chữa thì bất ngờ bốc cháy dữ dội. Vụ cháy đã khiến ngọn lửa nhanh chóng lan sang làm thiêu rụi một chiếc tàu cá khác cũng của ông Hầu đang neo đậu cạnh đó. Sau đó, ngọn lửa tiếp tục lan sang làm thiêu rụi 3 nhà dân nằm dọc sát bờ kênh.

Tình hình thiên tai: Từ ngày 16/12/2018 đến 15/01/2019, do ảnh hưởng của cơn bão số 1 gây ra thời tiết xấu ở vùng biển gần bờ có sóng to đã làm 41 thuyển câu mực của ngư dân huyện Kiên Hải bị chìm, ước thiệt hại 1 tỷ 500 triệu đồng.

Tải về:   - Số liệu Kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019 của tỉnh Kiên Giang

             - Chỉ số Giá tiêu dùng tháng 01 năm 2019 của tỉnh Kiên Giang 

Số lần đọc: 713
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan