06.02.2014

I . SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

Vụ Mùa: Tính đến nay diện tích gieo cấy được 63.044 ha, đạt 96,25% kế hoạch, giảm 2.814 ha so với vụ mùa năm trước. Trong đó huyện U Minh Thượng giảm 1.496 ha; Vĩnh Thuận giảm 679 ha… (Diện tích lúa mùa tháng trước dự báo 63.566 ha cao hơn thời điểm hiện tại 522 ha do huyện U Minh Thượng tính 393 ha diện tích lúa đông xuân sớm vào diện tích lúa mùa và huyện An Minh ước tính cao hơn 129 ha). Diện tích vụ mùa năm nay giảm do đất huyện U Minh Thượng phèn cao, sản xuất lúa đạt hiệu quả thấp nên nông dân chuyển trồng hai vụ, ngoài ra do giá tôm nuôi hai tháng cuối năm lại tăng hơn nên một số hộ nông dân vẫn để lại nuôi tôm mà không trồng lúa.

Tính đến thời điểm này, diện tích thu hoạch ước đạt 35.330 ha, năng suất ước đạt từ 42,5 tạ/ha đến 43,5 tạ/ha, tương đương với cùng kỳ năm trước. Dự kiến thu hoạch lúa mùa xong vào trung tuần tháng 2/2014.

Vụ Đông Xuân: Diện tích gieo sạ ước tính đạt 304.348 ha, bằng 101,35% (tăng 4.046 ha) so cùng kỳ năm trước; vượt 1,11% so kế hoạch (vượt 3.348 ha). Trong đó huyện Giồng Riềng tăng 1.537 ha, Kiên lương tăng 1.090 ha, U Minh Thượng tăng 877 ha, Giang Thành tăng 696 ha… Diện tích vụ đông xuân ở các huyện trên tăng là do chuyển từ diện tích trồng rừng tràm, diện tích nuôi tôm và một phần diện tích vườn tạp sản xuất kém hiệu quả chuyển sang trồng lúa.

Hiện nay còn một số hộ ở huyện Hòn Đất, Gò Quao, Vĩnh Thuận vẫn đang gieo sạ, dự báo diện tích gieo sạ vụ đông xuân năm nay có thể đạt trên 305.000 ha.

Diện tích lúa đông xuân bị nhiễm bệnh là 10.933 ha, chỉ bằng 42,32% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là bệnh cháy lá 9.023 ha, xảy ra ở các huyện Giồng Riềng, Giang Thành và Gò Quao… ngoài ra còn các bệnh sâu cuốn lá, lem lép hạt… Lúa mùa và lúa đông xuân năm nay, thời tiết tương đối thuận lợi, đến nay lúa đang phát triển tốt, ít bị  sâu bệnh hơn năm trước, khả năng sẽ đạt năng suất cao hơn 2 vụ này năm trước.

Cây màu: Diện tích trồng rau màu các loại so với năm trước vẫn ổn định, ngoại trừ dưa hấu bán được giá trong dịp Tết nên nhân dân trồng nhiều hơn, được 328 ha, tăng 12,23% so cùng kỳ. 

Chăn nuôi: Càng gần Tết giá các sản phẩm chăn nuôi càng tăng, hiện nay giá heo hơi từ 50.000đ/kg - 51.000đ/kg, tăng 6.000đ/kg - 7.000đ/kg; gà hơi 110.000đ/kg, tăng 10.000đ/kg. Với giá cả như hiện nay người chăn nuôi có lợi, hiệu quả chăn nuôi khá cao nhưng lượng cung sản phẩm hàng hóa chăn nuôi không nhiều do trước đây chăn nuôi gặp nhiều khó khăn nên tổng đàn đã giảm khá nhiều. Nếu giá cả từ con giống cho đến thức ăn chăn nuôi và giá bán sản phẩm giữ được mức ổn định như hiện nay cùng với việc kiểm soát tốt dịch bệnh thì khả năng tổng đàn gia súc gia cầm sẽ tăng mạnh trong thời gian tới. Lượng gia súc và gia cầm tiêu thụ trong dịp Tết tăng rất cao so với những ngày bình thường, hơn nữa thời tiết hiện nay khá lạnh nguy cơ phát triển dịch bệnh trên gia súc gia cầm rất cao, vì vậy để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng ngừa dịch bệnh bùng phát lây lan trên gia súc gia cầm, ngành chức năng cần tích cực kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển và giết mổ gia súc, gia cầm, đồng thời tăng cường công tác tiêm phòng đầy đủ đàn gia súc, gia cầm.

Tình hình dịch cúm gia cầm H5N1 trong tuần qua tái xuất hiện ở Trại giống nông, lâm, ngư nghiệp Hòn Đất, ấp Sư Nam, thị trấn Hòn Đất, ngày 19/01/2014 Trại đã phối hợp cùng cơ quan Thú y và các ngành chuyên môn tổ chức tiêu hủy tổng số 4.910 con gà bị mắc bệnh (đàn gà có độ tuổi trên 50 ngày), Trạm Thú y đã cấp phát hóa chất và hướng dẫn Trại giống tiêu độc sát trùng khu vực trong và xung quanh, các ngành chức năng huyện đang theo dõi tình hình dịch bệnh, tuyên truyền, hướng dẫn cho nông dân các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh lây lan sang diện rộng.

2. Lâm nghiệp

Hiện nay, thời tiết lạnh và khô hanh nên rừng rất dễ bị cháy, ngành Kiểm lâm cần chủ động phương tiện, phối hợp chặt chẽ với các địa phương để tăng cường phòng chống cháy rừng, đồng thời duy trì thường xuyên công tác chăm sóc rừng, chống chặt phá rừng để bảo vệ nguồn tài nguyên quí giá, bảo vệ môi trường sống.

 3. Thuỷ sản

Giá trị sản xuất thủy sản (theo giá so sánh 2010) tháng một ước tính đạt 1.295,8 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 15,75% và giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Giá trị khai thác 895,4 tỷ đồng, tăng 4,38% so tháng trước và giảm 4,95% so cùng kỳ và giá trị nuôi trồng 400,4 tỷ đồng, bằng 58,87%  so tháng trước và tăng 1,32% so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng chung cả khai thác và nuôi trồng trong tháng ước tính 48.248 tấn, đạt 7,9% kế hoạch năm, tăng 3,87% so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác ước tính 37.626 tấn thủy hải sản các loại, tăng 1,13% so tháng trước (tăng 420 tấn) và tăng 4,97% so cùng kỳ năm trước (tăng 1.782 tấn), sản lượng tăng chủ yếu là hải sản khác tăng 44,65%; lượng tôm lại giảm 15,3% (giảm 541 tấn).

Là tháng giáp Tết, giá cả thủy sản đang tăng, ngư dân đang tranh thủ khai thác cũng như thu hoạch thủy sản, hiện nay thời tiết rất thuận lợi cho việc khai thác đánh bắt thủy sản, nhưng nguồn tài nguyên cạn dần, lượng tôm, cá thu, chim... có giá trị cao đánh bắt sụt giảm, nên sản lượng khai thác được tuy tăng so cùng kỳ năm trước nhưng giá trị lại giảm.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản các loại ước đạt 10.802 tấn, bằng 93,6% so tháng trước và và tăng 0,21% so cùng kỳ. Lượng cá nuôi trong tháng này lại tăng 10,98% (tăng 520 tấn) do nhân dân thu hoạch bán trước tết; riêng lượng tôm sú tăng 6,51% (tăng 51 tấn) do năm qua giá tôm cao nên bà con vùng U Minh thả gối vụ nhiều lần; lượng tôm thẻ lại giảm 5,57% (giảm 38 tấn), diện tích tôm thẻ phần lớn đã thu hoạch vào tháng trước, hiện nay các doanh nghiệp và nông dân đang cải tạo ao chuẩn bị cho vụ nuôi mới.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp: Tháng Một, ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,47% so tháng trước và tăng 17,67% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai thác đá, cát sỏi tăng 2,86% so tháng trước và tăng 18,53% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,52% so tháng trước và tăng 18,07% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng,hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,91% so tháng trước và tăng 5,02% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,51% so tháng trước và tăng 8,01% so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) trong tháng Một ước tính đạt 2.159,5 tỷ đồng, tăng 3,78% so tháng trước và tăng 12,99% so với cùng kỳ. Trong đó: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 2.049,9 tỷ đồng, tăng 3,94% so tháng trước và tăng 13,45% so cùng kỳ; kế đến là ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt đạt 70,1 tỷ đồng, tăng 0,51% so tháng trước và tăng 4,58% so cùng kỳ; ngành khai thác đá, cát sỏi đạt 28,5 tỷ đồng, tăng 1,55% so tháng trước và tăng 2,85% so với cùng kỳ. Trong tháng một sản phẩm xi măng, thủy sản đông lạnh và xay xát gạo tăng khá cao so cùng kỳ: Xi măng 310,6 ngàn tấn, tăng 30,64% (tăng 72,8 ngàn tấn), trong đó xi măng Trung ương ước tính 65,5 ngàn tấn, tăng 66,13% (tăng 26,1 ngàn tấn); xi măng địa phương 79,3 ngàn tấn, tăng 26,94% (tăng 16,8 ngàn tấn); xi măng VĐT nước ngoài 165,8 ngàn tấn, tăng 22,05% (tăng 29,9 ngàn tấn); Thủy sản đông lạnh 3.840 tấn, tăng 30,35% (tăng 894 tấn), trong đó sản phẩm tôm đông lạnh tăng 36,36% (tăng 64 tấn); xay xát gạo 242 ngàn tấn, tăng 21,39% (tăng 42,6 ngàn tấn). Trong tháng còn một số sản phẩm mức sản xuất đạt thấp so cùng kỳ như: cá đông được 160 tấn,  bằng 28,57% (giảm 400 tấn); đường 600 tấn, bằng 34,29% (giảm 1.150 tấn).

III. ĐẦU TƯ

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng một dự tính 301,7 tỷ đồng, so tháng trước bằng 87,7% và tăng 2,71% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn cân đối ngân sách địa phương 118,2 tỷ đồng, tăng 1,71%; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 47 tỷ đồng, tăng 2,23%; vốn trái phiếu Chính phủ 50 tỷ đồng, tăng 3,48% so cùng kỳ năm trước.

IV. THU, CHI NGÂN SÁCH

 Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng một ước thực hiện được 632,6 tỷ đồng, đạt 12,68% dự toán năm và tăng 1,89% so cùng kỳ năm 2013, trong đó một số khoản thu trong tháng tăng so cùng kỳ năm trước như: từ doanh nghiệp Nhà nước Trung ương 21 tỷ đồng, tăng 3,44%; thu tiền sử dụng đất 163,7 tỷ đồng, tăng 12 lần.. Các khoản thu còn lại đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng một ước thực hiện 956,6 tỷ đồng, đạt 10,67% dự toán năm và bằng 97,18% so cùng kỳ năm 2013, trong đó chi đầu tư phát triển 54,4 tỷ đồng, bằng 2,72% dự toán, tăng 49,96%; chi thường xuyên trên 705,8 tỷ đồng, bằng 13,5% dự toán và tăng 6,13% so cùng kỳ.

V. THƯƠNG MẠI, GIÁ CẢ VÀ DỊCH VỤ

1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trong tháng một ước tính đạt 5.227 tỷ đồng, tăng 17,98% so với tháng trước và tăng 27,83% so với cùng kỳ năm trước. Kinh tế Nhà nước đạt 134,5 tỷ đồng, tăng 16,2% so tháng trước và tăng 6,09% so cùng kỳ; kinh tế tập thể đạt 4,4 tỷ đồng, tăng 15,7% so tháng trước và tăng 25,2% so cùng kỳ, kinh tế cá thể đạt 3.110,5 tỷ đồng, tăng 18,94% so tháng trước và tăng 12,37% so cùng kỳ, kinh tế tư nhân đạt 1.977,5 tỷ đồng, tăng 16,62% so tháng trước và tăng 66,09% so cùng kỳ năm trước.

Chia theo ngành kinh doanh kết quả như sau:

- Thương nghiệp 4.083,2 tỷ đồng, tăng 12,99% so cùng kỳ năm trước;

- Khách sạn nhà hàng 881,4 tỷ đồng, tăng 2,3 lần;

- Dịch vụ, du lịch lữ hành 262,3 tỷ đồng, tăng 2,4 lần

Thị trường hàng hóa và dịch vụ càng gần Tết càng sôi động hẳn lên, hàng hóa rất dồi dào, đa dạng về chủng loại, mẫu mã bao bì đẹp và rất phong phú. Các doanh nghiệp đang tăng cường quảng cáo, khuyến mãi để kéo sức mua, hơn nữa do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết rất cao, ngoài ra tháng này là mùa cưới nên sức mua đang tăng lên nhiều,  do đó tổng mức bán lẻ trong tháng Một tăng rất cao.

Để bình ổn thị trường trong dịp Tết, Ngay từ đầu tháng Một Sở Công Thương đã triển khai thực hiện chương trình bán hàng bình ổn giá nhằm ngăn chặn tình trạng găm hàng gây sốt giá trong dịp Tết; đã tổ chức các chuyến đưa hàng Việt về nông thôn, biên giới, hải đảo, kết hợp hưởng ứng thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tổ chức các Hội chợ Xuân phục vụ nhân dân mua sắm tiêu dùng những ngày Tềt. UBND Tỉnh đã hỗ trợ 40 tỷ đồng vốn vay, lãi suất 0% cho 3 doanh nghiệp như Siêu thị Citimart, Coopmart và Công ty Thương mại dịch vụ KG thực hiện bán hàng bình ổn giá thấp hơn thị trường 5%, tập trung vào 10 nhóm mặt hàng thiết yếu gồm: Gạo, thịt, trứng, dầu ăn, bánh kẹo, sữa, thực phẩm chế biến, rau, củ các loại...Đồng thời Chi cục Quản lý thị trường tỉnh tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm hành vi vi phạm, chống đầu cơ, găm hàng, mua bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, chất lượng hàng hóa kém, vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo nhất là đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm, hàng thiết yếu trong dịp Tết.

2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

2.1. Xuất khẩu: Tháng Một, tình hình xuất khẩu còn nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp chưa ký được hợp đồng xuất khẩu, đang trong quá trình tìm kiếm hợp đồng và thực hiện một số hợp đồng đã ký, nên xuất khẩu tháng Một đạt rất thấp. Ước tính giá trị hàng hóa xuất khẩu tháng Một đạt trên 23,1 triệu USD,  bằng 61,61% so với tháng trước và bằng  57,67% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm:

 Hàng nông sản: Ước tính giá trị xuất khẩu đạt 9,2 triệu USD, bằng 42,57% so tháng trước và bằng 34,12% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu là xuất khẩu gạo, ước tính lượng gạo xuất trong tháng Một được 20,7 ngàn tấn (giảm 41 ngàn tấn so với tháng trước). Trong đó: Công ty Thương mại-Du lịch Kiên Giang  xuất 3.000 tấn; Công ty KD Nông sản Kiên Giang 4.000 tấn; Công ty TNHH Thuận Phát 3.029 tấn; Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Kiên Giang 1.750 tấn; Công ty Lâm sản 3.720 tấn; Công ty TNHH Kiên An Phú 4.792 tấn.

      Hàng hải sản:  Ước tính giá trị xuất khẩu tháng Một đạt 12,4 triệu USD, bằng 86,75% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lượng tôm đông xuất 230 tấn, bằng 82,14% cùng kỳ năm trước (giảm 50 tấn); mực đông, tuộc đông 822 tấn, tăng 0,24% so cùng kỳ; cá đông 100 tấn, bằng 62,5% so cùng kỳ (giảm 60 tấn); hải sản đông khác 1.440 tấn, tăng 1,41% so cùng kỳ.

     Hàng hóa khác: 1,3 triệu USD, bằng 98,45%  so với tháng trước và bằng 96,34% so cùng kỳ năm trước.

2.2. Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu trong tháng Một ước tính đạt 1,5 triệu USD, bằng 71,98% so tháng trước và bằng 37,8% so cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là giấy Kratp và hạt nhựa cho Công ty Hải Đăng và Cty liên doanh bao bì Hà Tiên.

3. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 01 năm 2014 được tính từ ngày 15/12/2013 đến 15/01/2014 do đó chưa chịu tác động nhiều của việc tăng giá trong dịp Tết. 

Chỉ số giá tháng Một tăng 0,98% so với tháng trước, đây là mức tăng khá cao so với những tháng bình thường trong năm nhưng là mức tăng khá thấp đối với dịp giáp Tết của nhiều năm trước. Nhóm có chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống  với mức tăng 1,58%, trong đó: mặt hàng lương thực tăng 2,26% do các doanh nghiệp thu mua gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết, gạo ngon tăng 500đ/kg - 1.000đ/kg (+2,18%), gạo thường tăng 2,54%; hàng thực phẩm tăng 1,65% do giá thịt heo tăng 2.000đ/kg-5.000đ/kg so tháng trước (+ 4,13%). Nhóm giao thông tăng 1,14% do giá vé xe khách đã bắt đầu tăng. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,03%, chủ yếu do chỉ số giá gas tăng. Các nhóm còn lại tăng nhẹ như: nhóm đồ uống và thuốc lá và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,46%; nhóm  may mặc, giày dép, mũ nón tăng 0,37%; nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,3%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,25%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2014 so với tháng 1/2013 (sau một năm) tăng 4,91%, đây là mức tăng thấp nhất trong 11 năm qua. Trong đó: nhóm có chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,22%; kế đến nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,82% (lương thực tăng 2,13%, thực phẩm tăng 7,36%); nhóm may mặc, giày dép, mũ nón tăng 5,54%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,2%; các nhóm còn lại tăng dưới mức tăng chung; chỉ một nhóm giảm là bưu chính viễn thông giảm 1,16%.

Chỉ số giá vàng tháng 1/2014 (tính đến 15/1/2014) tiếp tục giảm mạnh theo giá vàng thế giới, so tháng trước giảm 1,83% (giảm 59.000đ/chỉ), bình quân giá bán trong tháng là 3.173.000đ/chỉ. Chỉ số giá vàng tháng 1/2014 so với tháng 1/2013 giảm 24,64%.

Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng Một giảm 0,08% so với tháng trước. Đến thời điểm điều tra ngày 15/1/2014 tại Ngân hàng Ngoại Thương bán ra là 21.115 đ/USD, thị trường tự do bán 21.190 đ/USD. Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 1/2014 so với tháng 1/2013 (sau 12 tháng) chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,46%.

4. Vận tải hành khách, hàng hóa:

Trong tháng Một, vận tải hàng hóa, hành khách tăng mạnh, là tháng trước Tết nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân tăng rất lớn.

Vận tải hành khách: Trong tháng Một vận chuyển hành khách ước tính 5,1 triệu lượt khách, tăng 14,22% và luân chuyển 262,4 triệu lượt khách.km, tăng 14,61% so với cùng kỳ năm 2013. Bao gồm: Vận tải đường bộ 4,1 triệu lượt khách, tăng 15,67% và 205,9 triệu lượt khách.km, tăng 16,68% so với cùng kỳ; Vận tải đường sông 0,863 triệu lượt khách, tăng 8,28% và 43,8 triệu lượt khách.km, tăng 9,82% so cùng kỳ; Vận tải đường biển 0,141 triệu lượt khách, tăng 11,02% và 12,6 triệu lượt khách.km, tăng 0,77% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa: Tháng Một, vận chuyển hàng hóa ước đạt 706 ngàn tấn, tăng 14,24% và luân chuyển 96,5 triệu tấn.km, tăng 14,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải đường bộ đạt 209 ngàn tấn, tăng 12,97% và 29,2 triệu tấn.km, tăng 13,03% so với cùng kỳ; Vận tải đường sông 298 ngàn tấn, tăng 19,2% và 37,7 triệu tấn.km, tăng 20,58% so với cùng kỳ; Vận tải đường biển 199 ngàn tấn, tăng 8,74% và 29,4 triệu tấn.km, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước.

5. Du lịch: Tháng một ước tính tổng số khách du lịch được 156,8 ngàn lượt khách, Bao gồm: 60,1 ngàn lượt người đến các khu vui chơi, điểm du lịch và 96,6 ngàn khách từ các cơ sở kinh doanh du lịch.

Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch tăng 4,68% so tháng trước và tăng 1,46% so cùng kỳ (mức tăng còn thấp vì số khách du lịch trong tháng Một chỉ mới dự định đăng ký đi trong dịp Tết). Số khách du lịch theo tour ước tính gần 7,4 ngàn lượt khách tăng 0,96% so tháng trước. Số khách quốc tế đi Phú Quốc ước tính 21 ngàn khách, giảm 0,4% so tháng trước và tăng 23,53% so cùng kỳ năm trước.

VI. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

- Về văn hóa: Trong tháng Một tập trung tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn; Lễ hội đón giao thừa tết Nguyên đán và các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Giáp Ngọ năm 2014, đồng thời triển lãm ảnh khổ lớn giới thiệu về thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội - an ninh quốc phòng, biển đảo Việt Nam và giới thiệu về tiềm năng, thắng cảnh du lịch của tỉnh.

Năm nay tỉnh sẽ tổ chức Lễ hội đón Giao thừa Tết Nguyên đán Giáp Ngọ năm 2014 tại 02 địa điểm: Thành phố Rạch Giá (đường Trần Quang Khải, khu lấn biển thành phố Rạch Giá) và huyện Phú Quốc vào đêm 30/01/2014 (nhằm 30 Tết). Chương trình Lễ hội đón giao thừa gồm các tiết mục để chào mừng năm mới như: Biểu diễn Lân - Sư - Rồng, Chương trình ca múa nhạc tổng hợp với chủ đề “Mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh, mừng Xuân Giáp Ngọ”,  Bài phát biểu chúc Tết của Chủ tịch UBND tỉnh  và Chương trình bắn pháo hoa tầm trung.

Nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ năm 2014, Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh đã tổ chức đoàn đến thăm hỏi, chúc tết, tặng quà các gia đình chính sách, các đơn vị lực lượng vũ trang ở vùng biên giới, huyện đảo.

- Về Y tế: Tình hình dịch bệnh: Sốt xuất huyết trong tháng (tính từ ngày 01/12/2013 đến 31/12/2013) toàn tỉnh có 58 cas mắc, giảm 10 cas (giảm 15%)  so với tháng trước, giảm 75 cas (56%) so với cùng kỳ năm 2013. Các địa phương có số mắc cao trong tháng là TP. Rạch Giá (21 cas) và huyện Phú Quốc (12 cas), các địa phương khác đều có số ca mắc giảm so tháng trước, toàn tỉnh chưa có trường hợp nào tử vong. Bệnh Tay Chân Miệng có 93 cas, giảm 09 cas so với tháng trước, số mắc trong tháng tập trung nhiều ở TP. Rạch Giá (24 cas), Phú Quốc (21 cas), Hòn Đất (11 cas), các địa phương khác đều có số ca mắc rải rác. Số mắc giảm 222 so với cùng kỳ tháng 01/ 2013 (315 cas), chưa ghi nhận có cas tử vong. Các bệnh truyền nhiễm khác đều giảm hơn tháng trước và so với cùng kỳ năm 2013; có 02 bệnh có số ca mắc tăng hơn tháng trước đó là: bệnh Thương hàn tăng 01 cas và bệnh lỵ Trực trùng tăng 04 cas; bệnh Cúm thường tăng 08 cas.

Trong tháng phát hiện mới 24 người nhiễm HIV, chuyển sang AIDS 0 cas, tử vong 0 cas. Mắc nhiều nhất ở nhóm tuổi  25-49  tuổi có 17/789 cas dương tính.  Theo số liệu tích lũy tính đến ngày 31/12/2013 toàn tỉnh có 4.506 người nhiễm HIV; chuyển sang AIDS 2.152 cas; tử vong 1.011 cas. Hiện số bệnh nhân nhiễm HIV còn sống là 1.964, trong đó bệnh nhân chuyển sang AIDS còn sống là 714 cas

- Về vệ sinh an toàn thực phẩm: Ngành Y tế trong tháng đã cấp mới 26/600 Giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP cho các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh dịch vụ ăn uống thực phẩm trong ; 20/100 Giấy công bố hợp quy. Thực hiện thanh, kiểm tra 1.621/14.600 cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ ăn uống. Trong đó có 1.504 cơ sở đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định chiếm 92,78%, 117 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP chiếm 7,22%. Ngoài ra Ngành y tế phối hợp với Thanh tra Sở Công Thương kiểm tra đột xuất các cơ sở kinh doanh rượu trên địa bàn thành phố Rạch Giá tại 11 cơ sở, kết quả 11 cơ sở đều đạt. Trong tháng không ghi nhận trường hợp ngộ độc thực phẩm nào.

- Tình hình an toàn giao thông: Theo Ban An toàn Giao thông tỉnh, trong tháng (tính từ ngày 16/12/2013 - 15/01/2014), toàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao đường bộ thông (không tính vụ va chạm), làm chết 15 người, bị thương 10 người. So với tháng trước tăng 4 vụ, tăng 4 người chết và tăng 5 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ không tăng giảm, tăng 3 người chết và giảm 9 người bị thương. Tháng giáp Tết tình hình giao thông khá phức tạp, các ngành chức năng cần chỉ đạo thực hiện các biện pháp tăng cường lực lượng cảnh sát giao thông, cảnh sát trật tự thanh tra giao thông, đẩy mạnh tuần tra lưu động, kiểm tra các chốt dừng ở đại lộ, để ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự ATGT như: chạy quá tốc độ, vượt đèn báo giao thông, đi sai phần đường, chở vượt mức cho phép, người tham gia giao thông uống rượu bia có nồng độ cồn vượt quá quy định cho phép…

- Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 16/12 đến ngày 15/01/2014, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ nổ, đã có 03 vụ cháy, so với cùng kỳ năm trước giảm 4 vụ. Với mức thiệt hại khoảng 23 triệu đồng, không gây thương vong về người, Nguyên nhân cháy 02 vụ do chập điện và 01 vụ chưa rõ nguyên nhân. /.

Tải về: Số liệu KTXH tháng 01 năm 2014

            Chỉ số giá tiêu dùng tháng 01 năm 2014

Số lần đọc: 1416
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan