04.06.2018

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

* Vụ Đông xuân: Diện tích gieo trồng 289.970 ha, đạt 99,99% so với kế hoạch, bằng 97,05%  so với cùng kỳ tập trung ở các huyện như: Vĩnh Thuận 6.492 ha, U Minh Thượng 7.565 ha, An Biên 9.598 ha, An Minh 100 ha, Giang Thành 29.350 ha, Tân Hiệp 36.655 ha , Hòn Đất 80.329 ha, Rạch Giá 5.554 ha, Châu Thành 19.469 ha, Giồng Riềng 46.716 ha, Gò Quao 25.142 ha và Kiên Lương 23.000 ha, đến nay nông dân đã thu hoạch xong hết diện tích, năng suất ước được 7,073 tấn/ha, sản lượng đạt 2.050.974 tấn.

Sản xuất lúa vụ Đông xuân năm nay tuy diện tích gieo trồng giảm 2,95% (giảm 8.814 ha), nhưng do thời tiết thuận lợi, lúa ít bị sâu bênh nên năng suất tăng 17,41 % (tăng 10,49 tạ/ha) dẫn đến sản lượng tăng 13,96% (tăng 251.237 tấn) so với vụ đông xuân năm trước.

  Năm nay, giá lúa ở mức từ 5.300 đồng/kg lúa thường đến trên 6.000 đồng/kg lúa chất lượng cao, tăng bình quân 1.000 đồng/kg so với vụ đông xuân năm 2017, với giá này người nông dân được lãi cao hơn so với mọi năm. Bà con nông dân rất phấn khởi, vui mừng được mùa, được giá.

* Vụ Hè thu (kể cả Xuân hè): Tính đến thời điểm này toàn tỉnh xuống giống được 141.672 ha, đạt 50,60% so với kế hoạch, bằng 98,19 % so với cùng kỳ tập trung ở các huyện Giang Thành 16.000 ha, Gò Quao 5.306 ha, Châu Thành 10.736 ha, Giồng Riềng 45.753 ha, Hòn Đất 21.000 ha, Rạch Giá 2.458 ha,Tân hiệp 36.179 ha và U Minh Thượng 3.670 ha.

Diện tích bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Hè Thu là 7.625ha, các đối tượng gây hại chủ yếu gồm: Vàng lùn – lùn xoắn lá 5.174 ha, xuất hiện ở các địa phương như Giồng Riềng, Hòn Đất, Tân Hiệp, Giang Thành, Gò Quao, Châu Thành, trong đó có 60 ha bị mất trắng, bà con nông dân đã trục bỏ và 635 ha bị nhiễm nặng do xuống giống không tuân thủ theo lịch thời vụ; bệnh Đạo ôn lá 503 ha, Rầy nâu 1.066 ha, Muỗi hành 12 ha, sâu cuốn lá 503 ha…

Do hiện nay vào đầu mùa mưa, thời tiết diễn biến mưa, nắng xảy ra đan xen có thể ảnh hưởng đến thời kỳ sinh trưởng của cây lúa và sâu bệnh phát sinh.  Vì vậy, đề nghị các ngành chức năng tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn bà con nông dân thăm đồng thường xuyên nhằm sớm phát hiện dịch bệnh để có biện pháp phòng trị kịp thời, hiệu quả.

* Cây màu: Tính từ đầu năm trên toàn tỉnh đã trồng được các loại cây màu chủ yếu như: Dưa hấu trồng được 812 ha, giảm 4,47% so cùng kỳ; khoai lang 724 ha, tăng 4,93%; rau đậu các loại 5.822 ha, tăng 19,08% so cùng kỳ năm trước...

* Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra chăn nuôi  01/04/2018 vừa qua, đàn trâu hiện có 4.641 con, giảm 5,38% (giảm 264 con) so cùng kỳ; Đàn bò 11.650 tăng 0,66% (tăng 76 con); Đàn heo 343.050 con, giảm 0,27% (giảm 940 con). Đàn gia cầm cũng đã có sự phát triển ổn định tăng trở lại với số lượng tổng đàn trên 5.629 ngàn con.Tình hình chăn nuôi gia súc gia cầm trong tỉnh không có biến động lớn. Đàn bò tăng nhẹ so với cùng kỳ một phần do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, Đàn trâu, đàn heo, đàn gia cầm giảm nhưng không đáng kể, hiện nay giá heo hơi đang trên đà tăng từ 39.000 - 41.000 đ/kg, nhưng chưa đảm bảo cho người nuôi có mức lãi hợp lý, ổn định để tái đàn. Nhờ làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh, nên từ đầu năm đến nay chưa phát hiện ổ dịch lớn nào xảy ra trên địa bàn.

b. Lâm nghiệp

Thời tiết hiện đang vào thời kỳ nắng nóng, khô hạn nên dễ xảy ra nguy cơ cháy rừng, các ngành chức năng thường xuyên cảnh báo và lên kế hoạch phòng chống cháy rừng, trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng nào. Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra 3 vụ vi phạm chặt phá rừng ở thị xã Hà Tiên với diện tích khoảng 0,112 ha. Ngành lâm nghiệp cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động bà con thường xuyên nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng hơn nữa để hạn chế việc xảy ra cháy rừng trong thời gian tới.

c. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (theo giá so sánh 2010): Tháng Năm ước đạt 2.630,30 tỷ đồng, tăng 28,41% so với tháng trước, tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Giá trị khai thác 1.305,39 tỷ đồng, tăng 1,75% so tháng trước, tăng 15,77% so cùng kỳ. Giá trị nuôi trồng 1.324,91 tỷ đồng, tăng 73,09 % so tháng trước, giảm 7,88% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng giá trị sản xuất thuỷ sản ước thực hiện 10.057,36 tỷ đồng, đạt 34,17% kế hoạch năm, tăng 10,23% so cùng kỳ. Chia ra: khai thác 6.236,43 tỷ đồng, đạt 39,65% kế hoạch, tăng 8,52% so cùng kỳ; nuôi trồng 3.820,93 tỷ đồng, đạt 27,89% kế hoạch, tăng 13,13% so cùng kỳ.

Tổng sản lượng thủy sản (khai thác và nuôi trồng): Tháng Năm ước đạt 66.251tấn, tăng 9,47 % so tháng trước, tăng 1,32% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng  ước thực hiện 295.541 tấn, đạt 37,70% kế hoạch năm, tăng 6,69% so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác: Tháng Năm ước được 49.561 tấn thủy hải sản các loại, tăng 1,19% (tăng 584 tấn) so tháng trước. Trong đó: cá các loại 36.848 tấn, tăng 0,34% (tăng 126 tấn); tôm 3.143 tấn, tăng 6,47% (tăng 191 tấn); mực 6.024 tấn, tăng 0,23% (tăng 14 tấn)...

Tính chung 5 tháng sản lượng khai thác được 236.428 tấn, đạt 42,68% kế hoạch năm, tăng 6,41% so cùng kỳ năm trước (tăng 14.233 tấn), trong đó: cá các loại 176.138 tấn, tăng 8,69% (tăng 14.084 tấn); tôm 14.605 tấn, tăng 0,84% (tăng 121 tấn); mực 29.417 tấn, tăng 4,05% (tăng 1.145 tấn)...

Sản lượng nuôi trồng: Tháng Năm ước đạt 16.690 tấn thủy sản các loại, tăng 44,60%  so tháng trước (tăng 5.148 tấn), nhưng chỉ bằng 87,34% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá các loại 3.738 tấn, tăng 10,46%; giảm 13,71% so năm trước;  Tôm các loại 8.576 tấn, tăng 64,73%, tăng 8,01% , trong đó tôm sú được 5.823 tấn, tăng 2,32 lần (tăng 3.314 tấn), giảm 6,98; tôm thẻ chân trắng 2.056 tấn, giảm 15,98%, nhưng lại tăng hơn 3,21 lần ; thủy sản khác 4.376 tấn, tăng 48,24%, nhưng chỉ bằng 64% so năm trước.

Tính chung 5 tháng sản lượng nuôi trồng ước thực hiện 59.113 tấn, đạt 25,70% kế hoạch, tăng 7,84% (tăng 4.299 tấn) so cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá nuôi các loại 18.810 tấn, tăng 1,17% (tăng 218 tấn); tôm các loại 23.570, tăng 36,30% (tăng 6.277 tấn), trong đó: tôm sú được 11.851 tấn, tăng 16,37% (tăng 1.667 tấn); tôm thẻ chân trắng 8.383 tấn, tăng 2,05 lần ( tăng 4.304 tấn); thủy sản khác 16.733 tấn, giảm 2.196 tấn ...

Sản lượng 5 tháng đầu năm tăng so với năm trước chủ yếu là sản lượng tôm nuôi các loại, nguyên nhân là do thời tiết năm nay thuận lợi, tình hình dịch bệnh ít xảy ra nên các doanh nghiệp, hộ nuôi tôm công nghiệp đầu tư cải tạo vuông, ao để thả giống nuôi sớm cũng như tăng thêm diện tích nuôi, trong đó mô hình nuôi xen kết hợp tôm sú, tôm thẻ, tôm càng xanh đang mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, sản lượng các loại thủy hải sản khác lại giảm do diện tích thả nuôi bị thu hẹp và chưa vào dịp thu hoạch rộ.

Tính đến nay, toàn tỉnh đã thả nuôi được 144.068 ha các loại, trong đó diện tích nuôi tôm 118.500 ha, riêng nuôi tôm công nghiệp 1.502 ha gồm thị xã Hà Tiên 260 ha, Kiên Lương 866 ha, Giang Thành 150 ha, Hòn Đất 158 ha, An Biên 30 ha.

 2. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp(IIP): Tháng Năm, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 5,69% so tháng trước, tăng 13,96% so cùng tháng năm trước. Ngành tăng cao nhất là ngành khai khoáng tăng 7,19%; kế đó là ngành chế biến, chế tạo tăng 5,76%, trong đó: ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,07%, ngành sản xuất đồ uống tăng 8,04; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 5,30%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 3,30%...

Chỉ số sản xuất toàn ngành ước 5 tháng tăng 8,87% so cùng kỳ năm trước, ngành tăng cao nhất là ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 12,85%; kế đến là ngành chế biến, chế tạo tăng 8,88%, trong đó: ngành sản xuất đồ uống tăng 24,67%, ngành sản xuất xi măng tăng 14,93%, ngành sản xuất chế biến thực phẩm chỉ tăng 2,86%;  ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 8,55%; ngành khai khoáng tăng 5,26%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng Năm, ước tính đạt 3.681,73 tỷ đồng, tăng 5,73% so tháng trước, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3.579,18 tỷ đồng, tăng 5,74%; ngành khai khoáng đạt 41,35 tỷ đồng, tăng 4,99%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 38,97 tỷ đồng, tăng 6,80%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải 22,23 tỷ đồng, tăng 3,41%.

Tính chung 5 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành ước thực hiện 17.625,90 tỷ đồng, đạt 41,49% kế hoạch năm, tăng 8,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17.124,32 tỷ đồng, chiếm 97,15%/Tổng giá trị sản xuất toàn ngành, tăng 8,88%; ngành khai khoáng 213,71 tỷ đồng, tăng 6,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước 177,64 tỷ đồng, tăng 10,29%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải 110,23 tỷ đồng, tăng 12,85% so cùng kỳ.

Một số sản phẩm công nghiệp 5 tháng đầu năm có mức tăng khá cao so cùng kỳ năm trước như: xi măng Trung ương 711,27 ngàn tấn, tăng 20,24%; xi măng địa phương 623,8 ngàn tấn, tăng 16,52%; Gạch không nung 2,616 triệu viên, tăng 87,39%; cá hộp 5,82 ngàn tấn, tăng 4,35%; Bia các loại 40.977 ngàn lít, tăng 40,16%...Tuy nhiên còn một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như sản xuất bột cá giảm 2,19%; Bao bì giảm 2,41%... là do khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2018 dự kiến bằng 91,44% so với tháng trước. Trong đó, ngành thủy hải sản ướp đông (trừ tôm, mực, cá) tăng 8,74%, chế biến mực đông tăng 7,82%; chế biến tôm đông tăng 6,12%; xay xát gạo bằng 95,06%, sản xuất đồ uống tăng 9,22%... Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ toàn ngành tăng 1,07% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 5 tháng tăng hơn so với cùng kỳ năm trước như: Tôm đông lạnh tăng 18,22%; sản xuất nước mắm tăng 11,92%; sản xuất đồ uống tăng 39,13%; sản xuất xi măng Porland đen tăng 12,96%...còn lại các ngành khác giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2018 dự kiến tăng 24,05% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với tháng trước như: phi lê cá và các loại thịt cá khác tươi, ướp lạnh bằng 71,88%, nước mắm bằng 97,01%; xay xát gạo bằng 81,26%... Từ hai chỉ số trên cho thấy, những tháng đầu năm các doanh nghiệp chế biến thủy sản và sản xuất trên địa bàn tỉnh có gặp khó khăn trong tiêu thụ  sản phẩm, tuy nhiên hiện nay đã được cải thiện và đang đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2018 tăng 46,74% so với cùng thời điểm này năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,06%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 67,28% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 48,98%.

3. Vốn đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng Năm ước tính 306,47 tỷ đồng, so tháng trước giảm 4,31%. Trong đó: Vốn cân đối ngân sách địa phương 186,86 tỷ đồng, tăng 23,75%; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 46,63 tỷ đồng, tăng 1,47%; vốn trái phiếu chính phủ 10,39 tỷ đồng, bằng 42,92%; vốn xổ số kiến thiết 55,55 tỷ đồng, bằng 61,26%; vốn ngoài nước (ODA) 4,69 tỷ đồng, bằng 55,60% so tháng trước.

Tính chung 5 tháng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước là 1.095,68 tỷ đồng, đạt 19,50% kế hoạch năm, bằng 71,17% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn cân đối ngân sách địa phương 520,62 tỷ đồng, đạt 25,52% kế hoạch, bằng 68,56% so cùng kỳ; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 283,76 tỷ đồng, đạt 26,01% kế hoạch, tăng 48,17%; vốn trái phiếu chính phủ 37,10 tỷ đồng, đạt 3,52% kế hoạch; vốn ngoài nước ODA 13,12 tỷ đồng, đạt 5,40% kế hoạch, chỉ bằng 12,76% so cùng kỳ.

Theo báo cáo của Ban quản lý khu kinh tế tỉnh, tiến độ thi công một số hạng mục còn chậm so kế hoạch, một số hạng mục công trình đã hoàn thành nhưng chậm thực hiện hồ sơ thủ tục để nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng. Trong tháng, Ban quản lý khu kinh tế tỉnh đã tiếp và làm việc với 03 công ty tìm hiểu đầu tư tại KCN Thạnh Lộc và khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên. Qua đó, đã chấp thuận cho Công ty TNHH Việt Phát thực hiện dự án xây dựng nhá máy sản xuất gạch Terrazzo – Clock, còn lại đối với dự án của Công ty TNHH Việt Đức – Dự án sang chai, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật, hiện đang lấy ý kiến các sở, ngành liên quan.

Theo báo cáo của Ban quản lý khu kinh tế Phú Quốc, lũy kế đến 15/5/2018, Phú Quốc có 279 dự án còn hiệu lực trong khu quy hoạch với diện tích 10.755 ha, tổng vốn đầu tư 364.232 tỷ đồng, trong đó có 242 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư với tổng diện tích 8.824 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 264.391 tỷ đồng; còn 37 dự án đang hoàn thiện thủ tục…

4. Thu, chi ngân sách

Tổng thu ngân sách trên địa bàn: Tháng Năm ước tính đạt 661,33 tỷ đồng, chỉ bằng 61,60% so tháng trước, tăng 48,48% so cùng tháng năm trước. Tổng thu ngân sách 5 tháng  được 4.342,03 tỷ đồng, đạt 47,01% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 8,30% so cùng kỳ. Trong đó: thu nội địa 4.300,81 tỷ đồng, đạt 47,26% dự toán, tăng 9,16% so cùng kỳ, chiếm 99,05% trong tổng thu ngân sách của tỉnh.  Một số các khoản thu đạt dự toán khá cao như: Thu phí trước bạ 202,04 tỷ đồng,  đạt 53,17% dự toán, tăng 61,85%; Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 373,40 tỷ đồng, đạt 124,47% dự toán, tăng 3,87 lần so cùng kỳ; thu phí, lệ phí 73,62 tỷ đồng, đạt 38,75% dự toán, tăng 10,16% so cùng kỳ. Tuy nhiên, còn một số khoản thu đạt thấp như thu thuế bảo vệ môi trường chỉ đạt 21,45% dự toán, bằng 63,04% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước TW đạt 35,79% dự toán, bằng 85,02% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 35,95% dự toán, bằng 80,88% so cùng kỳ…

Tổng chi ngân sách địa phương: Tháng Năm dự tính chi ngân sách địa phương 940,58 tỷ đồng, tăng 22,07% so tháng trước, giảm 10,85% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng tổng chi ngân sách  4.157,89 tỷ đồng, đạt 29,02% dự toán năm, bằng 93,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi thường xuyên 2.944,01 tỷ đồng, đạt 37,02% dự toán năm, tăng 9,72%; chi đầu tư phát triển 1.158,90 tỷ đồng, đạt 35,88% dự toán năm, bằng 69,07% so với cùng kỳ.

5. Ngân hàng

Tổng nguồn vốn hoạt động trong tháng 5/2018 tiếp tục tăng, đạt 81.200 tỷ đồng, tăng 1,48% so tháng trước, tăng 14,16% so với đầu năm. Trong đó: vốn huy động tại địa phương đạt 52.000 tỷ đồng, tăng 0,49% so tháng trước, tăng 19,73% so đầu năm, chiếm 64,04% tổng nguồn vốn hoạt

Hoạt động tín dụng tăng trưởng khá. Ước doanh số cho vay trong tháng 5/2018 ước đạt 13.000 tỷ đồng. Dư nợ cho vay đến 31/5/2018 ước đạt 60.600 tỷ đồng, tăng 1,93% so với tháng trước, tăng 7,05% so với đầu năm. Cơ cấu dư nợ cho vay như sau:

Cho vay ngành Nông Lâm nghiệp: Doanh số cho vay 1.500 tỷ đồng, dư nợ cho vay 10.850 tỷ đồng, tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 2,98% so với đầu năm; dư nợ ngành nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 17,90%/ tổng dư nợ.

Cho vay ngành Thuỷ sản: Doanh số cho vay 1.250 tỷ đồng, dư nợ ước đạt 4.650 tỷ đồng, tăng 1,72% so với tháng trước và tăng 4,08% so với đầu năm; dư nợ ngành thủy sản chiếm tỷ trọng 7,67%/ tổng dư nợ.

Cho vay ngành Công nghiệp: Doanh số cho vay 1.520 tỷ đồng, dư nợ ước đạt 4.650 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 1,35% so với đầu năm; dư nợ cho vay ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng 7,67%/tổng dư nợ.

Cho vay ngành Xây dựng: Doanh số cho vay 680 tỷ đồng, dư nợ ước đạt 3.650 tỷ đồng, tăng 1,30% so với tháng trước và tăng 11,41% so với đầu năm; dư nợ ngành xây dựng chiếm tỷ trọng 6,02%/tổng dư nợ.

Cho vay ngành Thương nghiệp, Dịch vụ: Doanh số cho vay 4.100 tỷ đồng, dư nợ ước đạt 20.250 tỷ đồng, tăng 2,49% so với tháng trước và tăng 9,24% so với đầu năm; dư nợ ngành thương nghiệp dịch vụ chiếm tỷ trọng 33,42% tổng dư nợ.

Cho vay ngành Giao thông vận tải và thông tin liên lạc: Doanh số cho vay 850 tỷ đồng, dư nợ ước đạt 1.400 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước, nhưng giảm 3,32% so với đầu năm; dư nợ ngành vận tải và thông tin liên lạc chiếm tỷ trọng 2,31%/ tổng dư nợ.

Cho vay tiêu dùng: Doanh số cho vay 3.100 tỷ đồng, dư nợ ước đạt 15.150 tỷ đồng, tăng 0,71% so với tháng trước và tăng 10,13% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 25,00%/tổng dư nợ.

* Tính đến 31/5/2018, chỉ tiêu chất lượng tín dụng ước đạt như sau:

- Nợ xấu 570 tỷ đồng, chiếm 0,94%/tổng dư nợ.

- Nợ tổn thất (nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro và đang theo dõi ngoại bảng) 500 tỷ đồng.

Tình hình thực hiện các chương trình tín dụng và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước

Doanh số và dư nợ cho vay đến 30/4/2018 và ước đến 31/5/2018 của một số lĩnh vực như sau:

Cho vay nông nghiệp nông thôn: Doanh số cho vay tháng 4/2018 đạt 4.613 tỷ đồng, doanh số cho vay luỹ kế từ đầu năm 16.497 tỷ đồng; dư nợ đạt 31.613 tỷ đồng, tăng 1,13% so tháng trước, tăng 8,43% so với đầu năm; chiếm 53,18% tổng dư nợ. Trong đó: Dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới trên địa bàn đạt 21.536 tỷ đồng; Dư nợ cho vay chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch trong nông nghiệp theo Quyết định 68 của Thủ tướng Chính phủ 346 tỷ đồng, giảm 2,31% so với tháng trước, tăng 0,30% so với đầu năm. Uớc đến 31/5/2018, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 32.000 tỷ đồng, tăng 1,22% so tháng trước, tăng 9,76% so với đầu năm.

Hoạt động cho vay xuất khẩu trong tháng 4/2018 tiếp tục tăng ở cả hai lĩnh vực gạo và thủy sản. Doanh số cho vay xuất khẩu tháng 4/2018 đạt 1.343 tỷ đồng, luỹ kế từ đầu năm đạt 4.910 tỷ đồng; dư nợ 5.326 tỷ đồng, tăng 4,00% so tháng trước, tăng 21,68% so với đầu năm. Cụ thể: Doanh số cho vay xuất khẩu gạo tháng 4/2018 đạt 408 tỷ đồng, luỹ kế đạt 1.619 tỷ đồng; dư nợ 1.175 tỷ đồng, tăng 4,07% so với tháng trước, tăng 90,13% so với đầu năm; Doanh số cho vay xuất khẩu thủy sản tháng 4/2018 đạt 935 tỷ đồng, luỹ kế đạt 3.291 tỷ đồng; dư nợ 4.151 tỷ đồng, tăng 3,98% so tháng trước, tăng 10,43% so với đầu năm. Ước đến 31/5/2018, dư nợ cho vay xuất nhập khẩu đạt 5.500 tỷ đồng, tăng 3,27% so tháng trước, tăng 25,66% so với đầu năm.

Cho vay phát triển thuỷ sản theo Nghị định 67: Trong tháng 4/2018, các tổ chức tín dụng tiếp tục giải ngân 5,46 tỷ đồng của các hợp đồng đã ký trước thời điểm 31/12/2017. Tổng số tiền đã giải ngân lũy kế từ đầu chương trình là 321,85 tỷ đồng (đạt 96,23% tổng số tiền cam kết cho vay). Đến 30/4/2018, dư nợ đạt 296,67 tỷ đồng và có 45/48 tàu đã hạ thủy.

Cho vay Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch: Đến cuối tháng 4/2018 dư nợ cho vay đạt 720 tỷ đồng, trong đó: cho vay nông nghiệp sạch 642 tỷ đồng, cho vay vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 78 tỷ đồng.

Chính sách Cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP và Nghị quyết 61/NQ-CP: Các ngân hàng thương mại trên địa bàn tiếp tục thu nợ, tính đến 30/4/2018, dư nợ còn 282 tỷ đồng của 618 HĐTD (01 DN và 617 cá nhân).

Trong tháng 4/2018, doanh số cho vay DNNVV đạt 2.882 tỷ đồng, dư nợ cho vay DNNVV đạt 12.242 tỷ đồng, tăng 0,55% so với đầu năm. Ước đến 31/5/2018, dư nợ cho vay DNNVV đạt 13.000 tỷ đồng tăng 6,19% so tháng trước, tăng 6,78% so với đầu năm. Các DNNVV đủ điều kiện đều được các ngân hàng áp dụng lãi suất cho vay theo qui định của NHNNVN.    

Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Kiên Giang tiếp tục thực hiện giải ngân cho vay đối với các chương trình tín dụng chính sách xã hội trọng điểm. Ước đến 31/5/2018, dư nợ cho vay của Ngân hàng CSXH chi nhánh tỉnh Kiên Giang đạt 2.920 tỷ đồng, tăng 0,03% so tháng trước, tăng 4,21% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 4,82%/tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn. Nợ xấu 102 tỷ đồng (trong đó nợ khoanh là 38 tỷ đồng), tỷ lệ nợ xấu là 3,49%.

Toàn tỉnh hiện có 22 QTDND đang hoạt động. Ước đến 31/5/2018, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.060 tỷ đồng, tăng 0,76% so tháng trước,tăng 2,32% so với đầu năm. Trong đó, Vốn huy động đạt 705 tỷ đồng, chiếm 66,51% tổng nguồn vốn; Vốn vay tại Ngân hàng Hợp tác xã và TCTD khác ước 220 tỷ đồng, chiếm 20,75% tổng nguồn vốn; Vốn khác 135 tỷ đồng, chiếm 12,74% tổng nguồn vốn; Dư nợ cho vay ước đạt 900 tỷ đồng, tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 0,33% so với đầu năm; Nợ xấu ước 5 tỷ đồng, tỷ lệ 0,56%. Dư nợ QTDND chiếm tỷ lệ 1,49%/tổng dư nợ toàn địa bàn.

6. Thương mại - dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng Năm ước đạt 7.074,48 tỷ đồng, tăng 1,80% so tháng trước, tăng 6,99% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 36.891,52 tỷ đồng, đạt 38,63% kế hoạch, tăng 7,75% so cùng kỳ năm trước. Chia ra:

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Năm ước tính 5.283,33 tỷ đồng, tăng 3,64% so tháng trước, tăng 5,65% so cùng kỳ. Tính chung 5 tháng 27.054,21 tỷ đồng, đạt 37,94% kế hoạch, tăng 6,14% so cùng kỳ.

* Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Năm đạt 962,2 tỷ đồng, tăng 0,24% so tháng trước. Tính chung 5 tháng 4.880,32 tỷ đồng, đạt 39,33% so kế hoạch, tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước. Chia ra:

Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng Năm ước tính 257,13 tỷ đồng, bằng 98,89% so tháng trước. Tính chung 5 tháng 1.336,37 tỷ đồng, tăng 42,12% so cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng Năm ước đạt 705,06 tỷ đồng, tăng 0,74% so tháng trước. Tính chung 5 tháng đạt 3.543,95 tỷ đồng, tăng 0,42% so cùng kỳ.

* Doanh thu du lịch lữ hành tháng Năm ước đạt 34,97 tỷ đồng, tăng 9,15% so tháng trước. Tính chung 5 tháng doanh thu du lịch lữ hành được 109,98 tỷ đồng, đạt 37,93% so kế hoạch, tăng 69,09% so cùng kỳ.

* Doanh thu dịch vụ khác tháng Năm ước đạt 793,97 tỷ đồng, giảm 7,63% so với tháng trước. Nhiều nhóm doanh thu dịch vụ tăng nhẹ như: dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 5,40%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 3,95%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 4,07%... Riêng dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 26,04% nên ảnh hưởng đến mức giảm chung.

Tính chung 5 tháng doanh thu các hoạt động dịch vụ ước thực hiện 4.847 tỷ đồng, đạt 42,15% so kế hoạch, tăng 14,99% so cùng kỳ năm trước. Đa số các hoạt động dịch vụ doanh thu đều tăng khá cao như: nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng cao nhất 33,04%; kế đến nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí 30,77%; nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 8,42%....

Nhìn chung, sau kỳ nghỉ Lễ 30/4 và 1/5 tình hình hàng hóa thị trường trở lại bình thường, dự báo nhu cầu mua sắm hàng hóa không tăng nhiều. Tuy nhiên, do hệ thống bán lẻ hàng hóa ở các cửa hàng, siêu thị đồng loạt giảm giá, khuyến mãi hấp dẫn … làm cho nhu cầu mua sắm của người dân cũng tăng lên đáng kể, nên tổng mức bán lẻ hàng hóa ổn định ở mức tăng cao như tháng trước.

Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường: Trong tháng đã ký 468 bản cam kết; kiểm tra 236 vụ việc, trong đó đã xử lý 45 vụ, gồm 15 vụ buôn bán vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu; 03 vụ vi phạm về hàng giả, hàng kém chất lượng; 03 vụ vi phạm về đầu cơ, găm hàng, sai phạm trong lĩnh vực giá; 15 vụ vi phạm trong kinh doanh; 01 vụ vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm và 08 vụ vi phạm khác. Xử lý các vụ vi phạm, thu phạt hành chính và bán hàng hóa tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1,32 tỷ đồng.

Tính chung 05 tháng đã kiểm tra 975 vụ, trong đó xử lý 172 vụ vi phạm, thu phạt hành chính và bán hàng hóa tịch thu nộp ngân sách nhà nước 4,92 tỷ đồng.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Năm dự tính đạt 53,68 triệu USD, tăng 21,52% so với tháng trước, tăng 72,03% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Hàng nông sản 27,58 triệu USD, tăng 31,27% so tháng trước; hàng thủy sản 13,58 triệu USD, tăng 5,31%; hàng hóa khác 12,51 triệu USD, tăng 21,94%.

Tính chung 5 tháng kim ngạch xuất thực hiện được 232,85 triệu USD, đạt 44,78% kế hoạch năm, tăng 73,77% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Hàng nông sản 105,58 triệu USD, đạt 55,57% kế hoạch, tăng 66,28% so cùng kỳ; hàng thủy sản 67,65 triệu USD, đạt 32,22% kế hoạch, tăng 11,89% ; hàng hóa khác (trong đó chủ yếu là mặt hàng giày da) là 58,24 triệu USD, đạt 48,54% kế hoạch, tăng 5,8 lần so cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân xuất khẩu tháng này dự kiến tăng so với tháng trước là do các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tiếp tục thực hiện những hợp đồng lớn với các đối tác với lượng gạo dự kiến xuất lên đến 53.370 tấn, trị giá trên 27,5 triệu USD. Xuất khẩu thủy, hải sản dự kiến đạt trên 13,5 triệu USD, các mặt hàng thủy hải sản dự kiến xuất khẩu tháng Năm chủ yếu như: Tôm đông dự kiến xuất 240 tấn, Mực đông, Bạch tuộc đông 1.200 tấn, Cá đông 250 tấn, Hải sản đông khác 1.095 tấn, Cá cơm sấy 70 tấn...

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Năm ước tính đạt 8,5 triệu USD, tăng 16,93% so tháng trước. Tính chung 5 tháng đạt 24,97 triệu USD, đạt 49,95% kế hoạch năm, chỉ bằng 81,84% so cùng kỳ năm 2017.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu dùng cho sản xuất gồm: thạch cao, giấy Kratp, hạt nhựa và sắt làm lưỡi câu mực, trục xoay câu mực...

c. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng năm tăng 0,59% so với tháng trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,73%, khu vực nông thôn tăng 0,50%. CPI tháng 05 tăng nhẹ là do có 4 nhóm hàng tăng, trong đó nhóm hàng nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất, tăng 3,76%; nhóm hàng giao thông tăng 1,89%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,07%; nhóm hàng văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01%. Còn lại các nhóm hàng khác không tăng, không giảm.

Tính đến tháng 12 năm trước (sau 05 tháng) chỉ số giá tiêu dùng (PCI) tăng 3,64%; Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 37,85%; kế đến là nhóm Giao thông tăng 5,07%; nhóm Văn hóa giải trí và du lịch tăng 4,84%; nhóm hàng nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,27% ... Còn lại nhóm hàng bưu chính viễn thông khác không tăng, không giảm.

* Chỉ số giá vàng: giảm 1,03% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng +6,59%. Giá vàng bình quân tháng 05/2018 là 3.644.000 đồng/chỉ.

* Chỉ số giá Đô la Mỹ: tăng 0,37% so tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,47%. Giá USD bình quân tháng 05/2018 là 2.287.499 đồng/100USD.

d. Vận tải

Vận tải hành khách: Tháng Năm ước đạt 6,39 triệu lượt khách, tăng 2,01% so tháng trước; luân chuyển 440,06 triệu HK.km, tăng 1,77% so tháng trước. Tính chung 5 tháng vận tải hành khách ước được 32,16 triệu lượt khách, đạt 38,44% kế hoạch, tăng 3,27% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 2.229,12 triệu HK.km, đạt 45,57%  kế hoạch, tăng 3,33% so cùng kỳ. Bao gồm: Vận tải hành khách đường bộ 25,99 triệu lượt khách, tăng 3,45%, luân chuyển 1.786,72 triệu lượt khách.km, tăng 3,53%; Vận tải hành khách đường sông 5,18 triệu lượt khách, tăng 2,29%, luân chuyển 331,03 triệu lượt khách.km, tăng 2,32%; Vận tải hành khách đường biển 0,98 triệu lượt khách, tăng 3,67%, luân chuyển 111,37 triệu lượt khách.km, tăng 3,12% so cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa: Tháng Năm ước tính 859 ngàn tấn, tăng 1,54% so tháng trước; luân chuyển 114,70 triệu tấn.km, tăng 0,98% so tháng trước. Tính chung 5 tháng vận tải hàng hóa ước tính 4,59 triệu tấn, đạt 39,09% kế hoạch năm, tăng 6,56% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 611,64 triệu tấn.km, đạt 38,33% kế hoạch, tăng 6,60%. Bao gồm: Vận tải hàng hóa đường bộ 1,43 triệu tấn, tăng 6,38%, luân chuyển 194,35 triệu tấn.km, tăng 6,49%; Vận tải hàng hóa đường sông 1,81 triệu tấn, tăng 4,49%, luân chuyển 227,24 triệu tấn.km, tăng 4,45%; Vận tải hàng hóa đường biển 1,34 triệu tấn, tăng 9,72%, luân chuyển 190,05 triệu tấn.km, tăng 9,40% so cùng kỳ.

Về giao thông nông thôn: Khối lượng dự kiến thực hiện đến 15/5/2018 là 31,3 Km, nâng lũy kế từ đầu năm đến nay là 41,03 km/328 km bằng 12,5% so kế hoạch. Nâng tỷ lệ nhựa hóa hoặc bê tông hóa đường giao thông nông thôn ấp và liên ấp là 5.250,79 km/7.084 km, bằng 74,12% chỉ tiêu Nghị quyết (Nghị quyết là 76%).

Về quản lý vận tải, phương tiện và người lái:  Ngành GTVT hiện đang quản lý 173 tuyến vận tải (Đường bộ: 122 tuyến; Đường thủy nội địa: 45 tuyến; Đường biển: 06 tuyến với hơn 5.802 phương tiện vận chuyển hành khách và hang hóa. Trong tháng đã tổ chức cấp đổi 217 phù hiệu các loại, nâng tổng số từ đầu năm đến nay là 1.492 phù hiệu các loại; Thu hồi 5 phù hiệu thông qua theo dõi thiết bị giám sát hành trình, nâng lũy kế từ đầu năm đến nay 9 phù hiệu, xử lý chấn chỉnh, nhắc nhở 467 trường hợp….

e. Du lịch

Tổng lượt khách du lịch tháng Năm ước đạt 706,5 ngàn lượt khách, giảm 2,94% so tháng trước, trong đó: Số lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch, đạt 292,14 ngàn lượt khách, giảm 2,43% so với tháng trước; số khách quốc tế đạt 54,63 ngàn lượt khách, giảm 0,39% so với tháng trước. Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch bao gồm: Số lượt khách từ cơ sở lưu trú du lịch phục vụ 273,98 ngàn lượt khách, giảm 4,04% so tháng trước và số lượt khách du lịch đi theo tour 18,16 ngàn lượt khách, tăng 30,46% so tháng trước.

Tính từ đầu năm, tổng lượt khách du lịch dự kiến 3.172,66 ngàn lượt khách, đạt 44,69% kế hoạch năm, tăng 28,47% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch 1.279,87 ngàn lượt khách, tăng 16,97% so cùng kỳ. Số khách quốc tế đạt 279,72 ngàn lượt khách, tăng 61,24% so với cùng kỳ. Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch bao gồm: khách cơ sở lưu trú du lịch phục vụ 1.212,73 ngàn lượt khách, tăng 16,59% và khách du lịch đi theo tour đạt 67,14 ngàn lượt khách, tăng 24,27% so cùng kỳ.

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Lao động, việc làm: Tháng 5/2018 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 3.578 lượt lao động, chia ra trong tỉnh 1.677 lượt lao động, ngoài tỉnh 1.899 lượt lao động, xuất khẩu 02 lao động; Tính chung 5 tháng là 16.030 lượt lao động, đạt 45,15% so kế hoạch (trong tỉnh 7.471 lượt lao động; ngoài tỉnh 8.515 lượt lao động; xuất khẩu 44 lao động). UBND tỉnh chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động người nước ngoài cho 9 đơn vị với 28 vị trí, nâng tổng số lên 29 đơn vị với 77 vị trí; cấp mới 10 giấy phép lao động; cấp lại 07 giấy phép; xác nhận 11 lao động nước ngoài không thuộc diện cấp GPLĐ. Tính chung 5 tháng cấp mới 43 giấy phép lao động; cấp lại 12 giấy phép; xác nhận 27 lao động nước ngoài không thuộc diện cấp GPLĐ.

Trung tâm Dịch vụ việc làm: Trong tháng đã tư vấn việc làm cho 3.950 lượt lao động (lũy kế 13.740), có việc làm ổn định 1.699 lao động; Giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 690 lao động (lũy kế 2.568). Tổ chức Ngày hội việc làm thanh niên năm 2018 trên địa bàn huyện Hòn Đất.

Công tác đào tạo nghề: Trong tháng các cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho 769 người. Tính chung 5 tháng là 9.463 người, đạt 34,29% so với kế hoạch.

7.2. Tình hình giáo dục

Giáo dục Mầm non: Thành lập 03 đoàn đánh giá ngoài đối với 03 trường mầm non của 3 huyện trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành hồ sơ đề nghị công nhận 04 trường mầm non đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.  Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Quyết định số 117/QĐ-TTg về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy- học… Kiểm tra, thẩm định 01 trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1.

Giáo dục tiểu học: Hoàn thành đánh giá ngoài 01 trường tiểu học. Lập kế hoạch đánh giá ngoài 01 trường  tiểu học. Tổng kết và khen thưởng Hội thi giáo viên dạy giỏi tiểu học tỉnh Kiên Giang năm học 2017-2018. Kiểm tra, thẩm định 06 trường chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh. Nâng tổng số trường hiện có là 125 trường.

Hướng dẫn các cơ sở giáo dục thực hiện báo cáo theo yêu cầu của UBND tỉnh Kiên Giang về 6 nội dung: Phòng tránh tai nạn, thương tích và đuối nước trẻ em, học sinh; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường; Về đạo đức nhà giáo; Công tác giáo dục học sinh về an toàn giao thông; Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, công tác y tế trường học; Công tác vệ sinh môi trường, sử dụng và bảo quản công trình vệ sinh, công trình nước sạch.

Giáo dục trung học: Kiểm tra công nhận 01 trường THCS đạt chuẩn quốc gia.  Tổ chức cuộc thi tiếng Anh trên internet (IOE) cấp toàn quốc năm học 2017-2018. Tham gia Hội đồng ra đề và sao in đề kiểm tra, đánh giá năng lực tuyển sinh lớp 6 THCS, năm học 2018-2019. Tham dự kỳ thi Olympic tiếng Anh Thông minh-OSE lần thứ II năm học 2017-2018; kiểm tra công tác ôn tập và chuẩn bị kỳ thi THPT quốc gia năm 2018. Tổ chức kiểm tra kỹ thuật và thẩm định 01 trường THCS đạt chuẩn quốc gia.

7.3. Tình hình văn hóa, nghệ thuật, thể thao

Trong tháng Năm đã tập trung tuyên truyền, tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phục vụ khá tốt các nhiệm vụ chính trị, nhất là hưởng ứng “Tháng hành động Quốc gia vì an toàn thực phẩm” năm 2018, kỷ niệm 132 năm Ngày Quốc tế lao động (01/5), kỷ niệm 64 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2018), kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh (15/5/1941 - 15/5/2018), kỷ niệm 128 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2018). Đặc biệt, đã tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Kiên Giang, lần thứ VIII năm 2018.

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc: Bảo tàng tỉnh phục vụ 540 lượt khách đến tham quan, trong đó có 36 lượt khách nước ngoài; hoàn chỉnh hồ sơ lý lịch hiện vật văn hóa các dân tộc; sưu tầm 03 hiện vật văn hóa Óc Eo; tiếp tục xây dựng hồ sơ lý lịch hiện vật gốm Hòn Dầm. Triển khai công tác lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội Ok-Om-Bok; sưu tầm tư liệu hồ sơ Bia chiến thắng Lộ Lục Phi, huyện Gò Quao; Thực hiện công tác quy hoạch chi tiết xây dựng Khu di tích lịch sử danh lam thắng cảnh núi Bình San, phường Bình San, thị xã Hà Tiên.

Thư viện tỉnh: Bổ sung 48 loại báo, tạp chí và 10.783 sách mới; đưa 14.971 lượt sách báo, tạp chí phục vụ 21.213 lượt bạn đọc. Tổ chức trưng bày sách mới, sách chuyên đề, báo, tạp chí nhân kỷ niệm 132 năm Ngày Quốc tế lao động (01/5), kỷ niệm 64 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2018) và kỷ niệm 128 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2018). Tổ chức trưng bày giới thiệu sách hưởng ứng Ngày Sách Việt Nam (21/4) tại Tiểu đoàn Bộ binh 207 và cơ quan Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Tổ chức trưng bày giới thiệu sách hưởng ứng Ngày Sách Việt Nam (21/4) phục vụ các em học sinh trên địa bàn phường Vĩnh Thanh – TP Rạch Giá với chủ đề “Biển đảo quê hương.

Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức thi đấu các giải thể thao trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Kiên Giang, lần thứ VIII năm 2018 như: Giải Đua ghe ngo với 12 đội ghe ngo nam, nữ tham dự; Giải Đua thuyền truyền thống có 12 đội thuyền nam, nữ tham dự; Giải Bóng đá nam 11 người với 07 đội tham dự; Giải Đẩy gậy với 107 vận động viên nam, nữ đến từ 16 đơn vị tranh tài ở 12 hạng cân nam và 09 hạng cân nữ; Giải Kéo co có 10 đội nam và 07 đội nữ đến từ 11 đơn vị; Giải Cờ tướng với 46 vận động viên nam đến từ 14 đơn vị; Giải Điền kinh với 223 vận động viên nam, nữ đến từ 20 đơn vị; tranh tài ở 12 nội dung nam, nữ; tất cả đã thu hút gần 40.000 lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

Tính đến ngày 15/5/2018, đã tổ chức 11/18 môn thể thao trong khuôn khổ Đại hội; kết quả hiện tại: Đối với Khối các huyện, thị xã, thành phố: huyện Gò Quao đạt hạng nhất (21 HCV, 08 HCB và 04 HCĐ), Châu Thành hạng nhì (16 HCV, 06 HCB và 07 HCĐ), Rạch Giá hạng ba (10 HCV, 15 HCB và 11 HCĐ); đối với Khối các cơ quan, doanh nghiệp: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đạt hạng nhất (01 HCV và 01 HCB), Công an tỉnh hạng nhì (05 HCB và 05 HCĐ).

Phối hợp tổ chức đón và đưa Đoàn đua Giải Xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, lần thứ 30 năm 2018 (thi đấu chặng 28 và 39); thu hút gần 10.000 lượt người xem và cổ vũ. Phối hợp tổ chức đón và đưa Đoàn đua Giải Tour xe đạp toàn quốc về nông thôn tranh Cúp Gạo Hạt Ngọc Trời năm 2018 (khai mạc tại huyện Phú Quốc, thi đấu chặng 1, 2 và 3); thu hút gần 10.000 lượt người xem và cổ vũ.

Thể thao thành tích cao: Các đội tuyển thể thao duy trì tập luyện thường xuyên theo kế hoạch; đồng thời tham dự các giải như Giải Vô địch Cúp các Câu lạc bộ Boxing toàn quốc năm 2018 tại Đắk Lắk, Giải Cờ vua toàn quốc - Tranh cúp LienVietPostBank năm 2018 và Giải Vô địch Điền kinh các lứa tuổi trẻ toàn quốc năm 2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh; kết quả: đạt 02 huy chương (01 HCV và 01 HCB).

7.4. Tình hình y tế

Trong tháng, các cơ sở y tế trong tỉnh đã khám, điều trị bệnh cho 407.258 lượt người; điều trị nội trú 26.466 bệnh nhân; công suất sử dụng giường bệnh chung là 90,87%; Tỷ lệ khỏi bệnh 71,34%, tỷ lệ tử vong 0,06%.

Số lượt khám chữa bệnh bằng YH Cổ truyền hoặc kết hợp YH hiện đại và YHCT là 53.763 lượt, chiếm 14,15 % tổng số lượt khám chữa bệnh trong tháng.

Tình hình dịch bệnh trong tháng (từ ngày 16/04/2018 – 15/05/2018):

Bệnh Sốt xuất huyết: Toàn tỉnh ghi nhận có 98 cas mắc, giảm 02 cas so với tháng trước. Tích lũy từ đầu năm đến nay 357 cas mắc, không có tử vong; so với cùng kỳ năm 2017 tăng 32 cas.

Bệnh Tay Chân Miệng: Toàn tỉnh  có 43 cas mắc, không tăng, không giảm so với tháng trước. Tích lũy số mắc từ đầu năm đến nay là 169 cas mắc, không có tử vong; so với cùng kỳ năm 2017 giảm 167 cas.

Các bệnh truyền nhiễm khác: Bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm, cụ thể Số cas mắc trong tháng/lũy kế từ đầu năm như sau: Tả (0/0), Thương hàn (7/30), Viêm não virus (3/8), Viêm màng não do NMC (0/0), Cúm A H5N1 (0), Sởi (0). Trong tháng có 01 cas tử vong do viêm não virus ở huyện Vĩnh Thuận.  

Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng thực hiện xét nghiệm 6.797 mẫu máu, phát hiện mới 20 cas HIV dương tính, tính chung 5 tháng phát hiện mới 55 cas HIV dương tính. Trong tháng, điều trị ARV cho 26 bệnh nhân HIV/AIDS, trong đó có 02 trẻ em dưới 15 tuổi. Tích lũy số bệnh nhân điều trị ARV là 1.584 người, trong đó có 104 trẻ dưới 15 tuổi. Tính đến thời điểm báo cáo, số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 2.528 người, trong giai đoạn AIDS 1.640 người. Số người điều trị Methadone mới trong tháng là 07 người, lũy kế có 104 người đang điều trị.

Phòng, chống các bệnh xã hội và bệnh nguy hiểm cho cộng đồng

Trong tháng không phát hiện  BN phong, phát hiện mới 199 BN lao, 03 BN tâm thần phân liệt và 02 BN động kinh. Tính chung từ đầu năm phát hiện 02 BN phong, 1.040 BN lao, 19 BN tâm thần phân liệt và 19 BN động kinh.

Số quản lý đến nay là 406 BN phong, 3.722 BN lao, 2.178 BN tâm thần phân liệt và 2.714 BN động kinh.

Điều trị khỏi bệnh 199 BN lao, Số bệnh nhân Lao đã được điều trị khỏi bệnh tính chung tử đầu năm đến nay là 985 người.

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: Trong tháng đã thẩm định, cấp 51 Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP. Thực hiện thanh tra, kiểm tra 1.243 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, trong đó có 143 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP, qua đó đã nhắc nhở và hướng dẫn cho các cơ sở thực hiện tốt việc đảm bảo an toàn thực phẩm tại cơ sở kinh doanh.

Trong tháng không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra, có 06 cas ngộ độc thực phẩm mắc lẻ (05 cas do ngộ độc của cồn, 01 cas do ăn thực phẩm).

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tiếp tục được quan tâm. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế hiện nay đạt 80,29%.

7.5. Tình hình an toàn giao thông

Tính từ ngày 16/4/2018 đến 15/5/2018 trên toàn tỉnh xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông, làm 13 người chết, 08 người bị thương. Trong đó: Số vụ TNGT nghiêm trọng 13 vụ, làm 13 người chết và 04 người bị thương. So với tháng trước số vụ TNGT tăng 06 vụ, số người chết tăng 06 người, số người bị thương tăng 04 người. Tính từ đầu năm, xảy ra 90 vụ tai nạn giao thông, làm 66 người chết, 55 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, giảm 02 vụ; tăng 20 người chết và giảm 12 người bị thương.

Tình hình tai nạn giao thông từ đầu năm đến nay tuy có giảm số vụ, nhưng lại tăng số vụ tai nạn nghiêm trọng (tăng 02 vụ), dẫn đến số người chết tăng rất cao (tăng 20 người) so với năm 2017, trong đó có 2 vụ đặc biệt nghiêm trọng làm chết 6 người, nguyên nhân  chủ yếu là do ý thức của một số người khi tham gia giao thông không tuân thủ quy định an toàn giao thông như lấn đường, sử dụng rượu bia, không chú ý quan sát…các ngành chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền kết hợp với thường xuyên tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường Quốc lộ nhằm ngăn chặn, phòng ngừa để giảm thiểu tai nạn giao thông trong thời gian tới.

 7.6. Tình hình cháy, nổ và thiên tai

Tình hình cháy nổ: Từ ngày 16/04/2018 đến 15/05/2018 toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, (gồm huyện Hòn Đất 01 vụ, Rạch Giá 01 vụ, Giồng Riềng 02 vụ), không có vụ nổ nào, thiệt hại do cháy gây ra ước tính 1 tỷ 770 triệu đồng, không có thiệt hại về người. Nguyên nhân do chập điện 01vụ, do đốt đồng bất cẩn cháy lan sang nhà dân 01 vụ, 01 vụ do rò rỉ khí gas.

Tính chung 5 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, 01 vụ nổ, làm 02 người thiệt mạng, không có người bị thương. Thiệt hại ước tính lũy kế 4 tỷ 475 triệu đồng.

Tình hình thiên tai: Từ ngày 16/4 đến 15/5/2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra những cơn mưa giông gió lớn, sóng to kèm lốc xoáy đã làm 01 phương tiện bị chìm, sập 02 căn nhà và tốc mái 09 căn nhà; 01 người chết do sét đánh, ước thiệt hại 160 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, thiên tai đã làm 01 phương tiện bị chím, 01 người chết, 01 người bị thương, sập 10 căn nhà, tốc mái 13 căn nhà, ước thiệt hại về vật chất là 360 triệu đồng.

Tải về: - Số liệu kinh tế xã hội tháng 5 và 5 tháng năm 2018 của tỉnh Kiên Giang

            - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 năm 2018 của tỉnh Kiên Giang

 

Số lần đọc: 576
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan