26.09.2016
Năm 2016, bên cạnh những yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, dự báo sẽ có nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tốc độ phục hồi kinh tế chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kinh tế trong nước trọng tâm là ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giải phóng mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, phát huy hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trước ngưỡng cửa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực.

Ở tỉnh ta, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2016 tiếp tục ổn định và tăng trưởng, một số chỉ tiêu đạt khá như: thu ngân sách đạt cao so dự toán; sản xuất công nghiệp tăng trưởng ổn định, các sản phẩm công nghiệp chủ lực như: xi măng, khai thác đá… có mức tăng khá, các dự án trọng tâm thuộc các khu công nghiệp hoàn thành đi vào sản xuất và đang tiếp tục đầu tư mở rộng; du lịch đang có bước phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, dịch bệnh được kiểm soát; an ninh chính trị, an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, kết quả sản xuất ở một số lĩnh vực cũng còn nhiều khó khăn như: Sản xuất nông nghiệp do biến đổi khí hậu, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền làm diện tích và năng suất vụ mùa, vụ đông xuân không đạt cả về diện tích cũng như sản lượng so kế hoạch đề ra; diện tích nuôi trồng thủy sản, nhất là diện tích nuôi cá nước ngọt vùng U Minh Thượng bị thiệt hại do nhiễm mặn... Cụ thể trên từng lĩnh vực đạt được như sau:

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 9 tháng năm 2016 theo (giá so sánh 2010) ước tính tăng 6,06% so với cùng kỳ năm 2015. Trong mức tăng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản  âm  (-2,17%), đóng góp cho tăng trưởng chung âm (-1,02) điểm phần trăm, trong đó riêng lĩnh vực nông nghiệp âm (-9,72%) và đóng góp tăng trưởng âm (-3,49%) điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 15,34%, đóng góp cho tăng trưởng chung 2,85 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ (kể cả thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm) tăng 12,31%, đóng góp cho tăng trưởng chung 4,23 điểm phần trăm.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng năm 2016 theo (giá so sánh 2010) ước tính đạt 37.703,41 tỷ đồng, đạt 74,71% kế hoạch năm, tăng 6,06% so với cùng kỳ năm 2015.

Chia ra :

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: Tổng giá trị tăng thêm (VA) ước tính đạt: 16.377,308  tỷ đồng, đạt 72,72% kế hoạch, giảm – 2,17% so cùng kỳ, đóng góp cho tăng trưởng chung khu vực I âm (-1,02) điểm phần trăm, trong đó: Giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp là 11.537,808 tỷ đồng, đạt 71,81% kế hoạch, giảm -9,72% so cùng kỳ, đóng góp cho tăng trưởng âm (-3,49) điểm phần trăm; lĩnh vực thủy sản giá trị tăng thêm ước đạt 4.731,116 tỷ đồng đạt 75,81% kế hoạch, tăng 22,93% so cùng kỳ năm trước, đóng góp cho tăng trưởng là  2,48 điểm phần trăm. Ở khu vực I cho thấy: do giá trị tăng thêm của ngành thủy sản chỉ chiếm 28,89% trong tổng giá trị gia tăng của khu vực I và tăng 22,93%, trong khi đó giá trị tăng thêm của nông nghiệp chiếm đến 70,45% và tăng trưởng âm -9,72% nên không đủ bù đắp cho lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy, đã làm cho giá trị tăng thêm của khu vực I tăng trưởng âm -2,17%.

- Khu vực công nghiệp và xây dựng: Tổng giá trị tăng thêm ước tính 7.606,85 tỷ đồng, đạt 74,25% kế hoạch, tăng 15,34%, đóng góp cho tăng trưởng chung khu vực II là 2,85 điểm phần trăm, trong đó lĩnh vực công nghiệp giá trị tăng thêm  ước đạt 4.386,75 tỷ đồng, đạt 59,06% kế hoạch, tăng 9,96% so cùng kỳ, đóng góp cho tăng trưởng là 1,12 điểm phần trăm; giá trị gia tăng ngành xây dựng là 3.220,10 tỷ đồng đạt 114,29% kế hoạch và tăng 23,58% so cùng kỳ, đóng góp cho tăng trưởng trong khu vực II là 1,73 điểm phần trăm. Ở khu vực II cho thấy: Sản xuất công nghiệp ngoài những sản phẩm chủ lực có mức sản xuất tăng cao hơn so cùng kỳ như: xi măng, chế biến thủy sản, xay xát gạo, khai thác đá…thì trong 9 tháng năm 2016 đã có một số Nhà máy mới khánh thành đi vào hoạt động tạo ra những sản phẩm mới như: Nhà máy sản xuất giày thể thao xuất khẩu thuộc Cty Thái Bình Kiên Giang; Nhà máy chế biến gỗ MDF Kiên Giang, Nhà máy May Vinatex Kiên Giang…nên đã làm cho giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng trưởng 9,89%, và do tăng trưởng của ngành xây dựng tăng cao và chiếm tỷ trọng trên 42,3% nên đã kéo khu vực II có mức tăng trưởng chung là 15,34%. Khu vực II có triển vọng phát triển trong những tháng cuối năm khi các nhà máy nói trên tăng lượng sản phẩm tham gia thị trường và khu vực II sẽ là điểm tựa cho tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh trong những năm tiếp theo.

- Khu vực dịch vụ: Tổng giá trị tăng thêm ước đạt 12.624,75 tỷ đồng, đạt 71,33% kế hoạch, tăng 11,44% so cùng kỳ, đóng góp cho tăng trưởng chung là 3,65 điểm phần trăm, trong đó tăng cao nhất thuộc các ngành thương mại, du lịch, vận tải... còn lại các ngành dịch vụ khác có mức tăng trưởng thấp. Đây là khu vực đóng góp cho tăng trưởng kinh tế cao nhất.   

Nhìn chung, ở một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh ổn định và  tăng khá thì còn có những lĩnh vực sản xuất gặp khó khăn do khách quan: nhất là lĩnh vực nông nghiệp do diễn biến thời tiết nắng hạn, mặn xâm nhập, hiện tượng El-Nino …đã làm ảnh hưởng nặng nhất trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng trong những tháng đầu năm, sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, diện tích gieo trồng lúa 2 vụ Đông xuân và vụ Mùa giảm cả năng suất, sản lượng làm cho giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm ... từ đó làm ảnh hưởng đến mức tăng trưởng chung của nền kinh tế tỉnh ta trong 9 tháng cũng như của cả năm 2016.

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 9 tháng năm 2016

 

 

9 tháng năm  2016

(triệu đồng)

Tốc độ tăng

so với  9 tháng năm 2015 (%)

Đóng góp các khu vực vào tăng trưởng 9 tháng năm 2016 (%)

Theo giá

hiện hành

Theo giá

so sánh 2010

Tổng sản phẩm trên ĐB (GRDP)

Tổng giá trị tăng thêm (VA)

Phân theo khu vực kinh tế

1. Nông, lâm, thủy sản

   Riêng: - Nông nghiệp

               - Thủy sản

2. Công nghiệp, xây dựng

   Riêng: Công nghiệp

3. Dịch vụ

4. Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP.   

49.278.175

47.906.568

20.687.037

14.704.676

5.800.515

10.214.831

6.183.561

17.004.700

1.371.607

 

37.703.411

36.608.911

16.377.308

11.537.808

4.731.116

7.606.851

4.386.750

12.624.752

1.094.500

 

6,06

5,61

-2,17

-9,72

22,93

15,34

9,96

11,44

23,43

6,06

5,48

-1,02

-3,49

2,48

2,85

1,12

3,65

0,58

 

2. Tài chính, ngân hàng:

2.1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách trên địa bàn:)[1] Tổng thu ngân sách 9 tháng năm 2016 dự kiến là 5.822,03 tỷ đồng, đạt 90,53% dự toán HĐND tỉnh giao và tăng 1,84%  so cùng kỳ năm 2015. Trong đó: thu nội địa 4.748,46 tỷ đồng, đạt 94,19% KH và tăng 23,07% so cùng kỳ, chiếm 81,56% trên tổng thu ngân sách của tỉnh. Đa số các khoản thu đều đạt cao so dự toán, trong đó: đạt cao nhất là thu thuế CTN ngoài quốc doanh 1.520,11 tỷ đạt 101,34% so dự toán và tăng gấp 1,89 lần so cùng kỳ, thu tiền sử dụng đất 1.005,99 tỷ đồng, đạt 123,23% dự toán; thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 423,49 tỷ đồng, đạt 148,59% dự toán và tăng 38,14% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước Trung ương 298,9 tỷ đồng, đạt 80,79% dự toán và tăng 14,87% so cùng kỳ...

Bên cạnh đó vẫn còn một số khu vực, sắc thuế đạt thấp so dự toán cả năm như: Thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương 59,18%; thu phí và lệ phí 66,20%; thu cấp quyền khai thác khoáng sản 48,13%.

Tổng chi ngân sách địa phương: Tổng chi ngân sách 9 tháng năm 2016 dự kiến là 6.815,46 tỷ đồng, bằng 63,79% dự toán năm và giảm 4,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi thường xuyên 4.624,03 tỷ đồng, bằng 78,74% dự toán năm và tăng 0,31%; chi đầu tư phát triển 1.548,56 tỷ đồng, đạt 50,21% dự toán năm và tăng 31,69% so với cùng kỳ năm trước.

2.2. Hoạt động Ngân hàng

    Ước đến 30/9/2016, tổng nguồn vốn hoạt động ngân hàng đạt 54.480 tỷ đồng, tăng 1,04% so với quý II/2016 và tăng 8,25% so với đầu năm. Trong đó, nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 31.900 tỷ đồng, tăng 3,15% so với quý II/2016 và tăng 13,34% so với đầu năm, chiếm 58,55% trên tổng nguồn vốn hoạt động. Nguồn vốn huy động tại địa phương tăng chủ yếu là do tăng số dư tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Cụ thể: số dư tiền gửi thanh toán ước đạt 7.350 tỷ đồng, tăng 9,31% so với quý II/2016 và tăng 18,88% so với đầu năm, chiếm 23,04% trên tổng nguồn vốn huy động tại địa phương; số dư tiền gửi tiết kiệm ước đạt 24.400 tỷ đồng, tăng 1,38% so với quý II/2016 và tăng 12,92% so với đầu năm, chiếm 76,49% trên tổng nguồn vốn huy động tại địa phương; số dư nguồn vốn phát hành giấy tờ có giá tăng nhẹ, ước đạt 150 tỷ đồng, tăng 13,21% so với quý II/2016, nhưng giảm 57,77% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 0,47% trên tổng nguồn vốn huy động tại địa phương.

Nguồn vốn điều hòa và vốn vay giảm, ước đạt 16.500 tỷ đồng, giảm 3,95% so với quý II/2016, nhưng tăng 3,14% so với đầu năm; vốn vay chiếm tỷ trọng 30,29% trên tổng nguồn vốn hoạt động.

Nguồn vốn khác tăng nhẹ, ước đạt 6.080 tỷ đồng, tăng 4,56% so với quý II/2016, nhưng giảm 1,67% so với đầu năm; vốn khác chiếm tỷ trọng 11,16% trên tổng nguồn vốn hoạt động.

Hoạt động tín dụng: Doanh số giải ngân của các TCTD trên địa bàn trong quý III/2016 ước đạt 20.500 tỷ đồng. Trong đó: Cho vay ngắn hạn ước đạt 14.500 tỷ đồng, chiếm 70,73% doanh số cho vay (cho vay bằng VND là 13.000 tỷ đồng, cho vay bằng ngoại tệ 1.500 tỷ đồng); Cho vay trung và dài hạn là 6.000 tỷ đồng, chiếm 29,27% doanh số cho vay (chủ yếu là cho vay bằng VND).

Dự kiến 9 tháng 2016,doanh số cho vay đạt 60.000 tỷ đồng, tăng 2,68% so cùng kỳ. Trong đó: doanh số cho vay ngắn hạn 43.000 tỷ đồng, tăng 4,18% so cùng kỳ, doanh số cho vay trung và dài hạn 17.000 tỷ đồng, giảm 0,91% so cùng kỳ.

Tính đến 30/9/2016 dư nợ cho vay ước đạt 41.300 tỷ đồng, tăng 0,58% so quý II/2016 và tăng 7,22% so với đầu năm.

Chất lượng tín dụng: Với nỗ lực kiểm soát chất lượng tín dụng, tăng cường xử lý nợ xấu và đẩy mạnh các biện pháp thu hồi nợ rủi ro đang theo dõi ngoại bảng của các TCTD, tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh vẫn được kiểm soát trong mức an toàn (dưới 3%), nợ ngoại bảng tiếp tục giảm nhẹ.

Ước đến 30/9/2016 nợ xấu giảm còn 580 tỷ đồng, chiếm 1,40%/tổng dư nợ. Trong đó:

+ Nợ xấu trong cho vay doanh nghiệp ước 190 tỷ đồng (32,76%/tổng nợ xấu), chiếm tỷ lệ 1,35%/tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp.

+ Nợ xấu cho vay các thành phần khác (hộ gia đình & cá nhân) 390 tỷ đồng (67,24%/tổng nợ xấu), chiếm 1,43%/tổng dư nợ cho vay hộ gia đình & cá nhân.

- Nợ tổn thất (nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro và đang theo dõi ngoại bảng) ước 480 tỷ đồng.

Tình hình dư nợ các chương trình tín dụng: Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ tiếp tục được quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện. Đến 31/8/2016, dư nợ cho vay các chương trình đều tăng, cụ thể như sau:

+ Các Ngân hàng tiếp tục triển khai thực hiện cho vay theo chính sách phát triển thuỷ sản Nghị định 67; Trong tháng 8, các ngân hàng tiếp tục giải ngân thêm 7,3 tỷ đồng, nâng tổng số tiền đã giải ngân đạt 105,51 tỷ đồng; dư nợ đến thời điểm báo cáo là 105,51 tỷ đồng. Hiện có 13/17 tàu đã hạ thuỷ.

+ Cho vay xuất khẩu hai mặt hàng chủ lực của tỉnh đều tăng so với đầu năm, tuy nhiên mức tăng thấp hơn so với những tháng gần đây, do dư nợ cho vay xuất khẩu gạo giảm. Doanh số cho vay xuất khẩu tháng 08/2016 đạt 1.362 tỷ đồng, tính luỹ kế 8 tháng đạt 8.185 tỷ đồng; dư nợ 3.564 tỷ đồng, giảm 0,24% so với tháng trước và giảm 3,38% so với quý II/2016, nhưng tăng 14,37% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 8,66% tổng dư nợ. Trong đó: Doanh số cho vay xuất khẩu gạo tháng 8/2016 đạt 674 tỷ đồng, luỹ kế 8 tháng đạt 3.554 tỷ đồng, dư nợ 967 tỷ đồng, giảm 6,30% so với tháng trước và giảm 15,99% so với quý II/2016, nhưng tăng 29,11% so với đầu năm; Doanh số cho vay xuất khẩu thủy sản tháng 8/2016 đạt 688 tỷ đồng, luỹ kế 8 tháng đạt 4.631 tỷ đồng, dư nợ 2.597 tỷ đồng, tăng 2,22% so với tháng trước, tăng 2,33% so với quý II/2016 và tăng 9,70% so với đầu năm.

+ Cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP và Nghị quyết 61/NQ-CP: Từ ngày 01/8/2016, các ngân hàng thương mại được phép tiếp tục giải ngân đối với các hợp đồng tín dụng vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP đã ký trước ngày 31/3/2016 của khách hàng cá nhân, hộ gia đình mua, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại; xây dựng mới hoặc cải tạo sửa chữa lại nhà ở từ nguồn tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đến hết ngày 31/12/2016 (Thông tư 25/2016/TT-NHNN). Nhờ đó, đến 31/8/2016 các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện giải ngân 416 tỷ đồng với 712 HĐTD (01 DN và 711 cá nhân), dư nợ đạt 371 tỷ đồng. 

Hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội: Dư nợ cho vay ước đạt 2.539 tỷ đồng, tăng 1,28% so với quý II/2016 và tăng 5,05% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 6,15%/tổng dư nợ cho vay. Nợ xấu 59 tỷ đồng (trong đó nợ khoanh là 33 tỷ đồng), tỷ lệ nợ xấu là 2,32%.

3. Đầu tư và xây dựng:

Dự kiến tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh  ước 9 tháng là 28.449,44 tỷ đồng, đạt 65,21% kế hoạch năm, giảm 3,97% so cùng kỳ. Chia ra: Vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lý đạt 24.649,44 tỷ đồng, đạt 61,89% kế hoạch; vốn đầu tư của Bộ ngành quản lý ước 3.800 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý  đạt 2.462,33 tỷ đồng đạt 47,15% kế hoạch; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 457,97 tỷ đồng, đạt 57,25% kế hoạch; vốn ngoài nhà nước của doanh nghiệp, hộ dân cư, hộ kinh tế cá thể 19.030,71 tỷ, đạt 58,59% kế hoạch.

 Theo báo cáo của Ban quản lý khu kinh tế, 9 tháng đầu năm 2016 tiến độ triển khai đầu tư tại các khu công nghiệp như sau:

Trong quí III/2016, giá trị đầu tư của các dự án đang triển khai sản xuất trong KCN Thạnh Lộc, Thuận Yên ước đạt 304 tỷ đồng, lũy kế từ khi triển khai đến nay là 2.623 tỷ đồng, trong đó:

KCN Thạnh Lộc: Hiện có 04 dự án đang hoạt động sản xuất gồm: Dự án Bia Sai Gòn, giầy da, gỗ MDF, cấp nước; 08 dự án đang triển khai đầu tư xây dựng. Giá trị đầu tư trong quí III là 253 tỷ đồng, lũy kế từ khi triển khai đến nay là 2.463 tỷ đồng.

KCN Thuận Yên: Hiện có 01 dự án đang triển khai xây dựng, giá trị đầu tư trong quý III là 51 tỷ đồng, lũy kế từ khi triển khai đến nay đạt khoảng 160 tỷ đồng.

Khu kinh tế cửa khẩu có 02 dự án đăng ký và đã được cấp GCN đầu tư với diện tích 52,31 ha, tổng vốn đăng ký là 183,69 tỷ đồng.

4. Sản xuất công nghiệp:

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Trong tháng 9 ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng  10,37% so tháng trước và tăng 26,85% so cùng kỳ năm trước. Ngành tăng cao nhất so tháng trước là ngành khai khoáng tăng 15,13%; kế đến là ngành chế biến, chế tạo tăng 10,30%, trong đó: ngành chế biến, bảo quản thủy sản tăng 11,46%, xay xát và sản xuất bột thô tăng 12,02%, ngành sản xuất xi măng tăng 8,49%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 7,49%. ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,12%.

Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 9,93% so cùng kỳ năm 2015, ngành tăng cao là ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 12,85%; kế đến là ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 10,26%; ngành khai khoáng tăng 9,88%; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,86%, trong đó ngành chế biến, bảo quản thủy sản tăng 6,96%, ngành sản xuất xi măng tăng 21,75%, xay xát tăng 6,87%...

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng 9 ước tính 3.366,19 tỷ đồng, tăng 10,24% so tháng trước, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3.189,22 tỷ đồng, chiếm 94,74% trong tổng số, tăng 10,30%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 117,47 tỷ đồng, tăng 7,49%; ngành khai khoáng đạt 44,70 tỷ đồng, tăng 15,13%.  Luỹ kế 9 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành: 25.419,04 tỷ đồng, đạt 65,03% kế hoạch năm và tăng 9,89% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 24.114,75 tỷ đồng, tăng 9,86%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 805,54 tỷ đồng, tăng 10,26%; ngành khai khoáng 343,77 tỷ đồng, tăng 9,88%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải 154,97 tỷ đồng, tăng 12,85% so cùng kỳ năm trước.

    Một số sản phẩm công nghiệp trong 9 tháng có mức tăng cao so cùng kỳ như: xi măng Địa phương đạt 852,98 ngàn tấn, tăng 28,03%; xi măng Trung ương đạt 1.025,22 ngàn tấn, tăng 39,53%; mực đông 13,19 ngàn tấn, tăng 3,41%; cá đông 2.408 tấn, tăng 10,76%; xay xát gạo 2.175,02 ngàn tấn, tăng 7,02%...Nhìn chung mức sản xuất sản phẩm các ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm đạt khá so cùng kỳ năm trước, trong đó có các mặt hàng mới như Giày da 28 ngàn đôi, Gỗ MDF 18,15 ngàn m3.      

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế  tạo tháng 08 năm 2016 tăng 3,0% so tháng trước và tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước. Một số  ngành có chỉ số tiêu thụ  tháng 08 tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xi măng  tăng 25,15%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,63%. (Trong đó: Mực đông tăng 11,97%, thuỷ hải sản ướp đông tăng 12,72%; sản xuất nước mắm tăng 8,85%); xay xát và sản xuất bột thô tăng 19,56%. Một ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ đó là sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng  giảm 67,72%...

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại thời điểm 1/09/2016 bằng 57,75% so cùng thời điểm năm 2015; một số ngành có chỉ số tồn kho giảm thấp hơn mức giảm chung như: sản xuất chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản là  46,36%, xay xát gạo 59,6%.. Một số ngành có chỉ số tồn kho còn cao như: sản xuất xi măng tăng 31,84…

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/09/2016 giảm 4,52% so với thời điểm này năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,54%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 6,75%.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp: Từ đầu năm đến 1/9/2016 số lượng doanh nghiệp thành lập mới trên địa bàn tỉnh là 878 doanh nghiệp, tăng 52 doanh nghiệp so với năm trước, trong đó ngành khai khoáng 6 DN, công nghiệp chế biến 69 DN, sản xuất phân phối điện, nước, gas 8 DN với tổng số vốn đăng ký 7.917 tỷ đồng, tăng 45,64% so cùng kỳ năm trước; Tổng số lao động tham gia trong các doanh nghiệp mới thành lập trên 2.800 lao động. Doanh nghiệp giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động từ đầu năm đến nay là 174 DN với tổng số vốn là 878 tỷ đồng (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ chuyển xuống hình thức kinh doanh cá thể).

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:

Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản 9 tháng đầu năm 2016 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 42.405,4  tỷ đồng, đạt 77,47% kế hoạch, giảm 1,48% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, nông nghiệp đạt 23.455,6 tỷ đồng, đạt 77,44% kế hoạch, giảm 9,72% so cùng kỳ; lâm nghiệp đạt 175,5 tỷ đồng, đạt 57,07% kế hoạch, giảm 3,17% so cùng kỳ; thủy sản 18.774,3 tỷ đồng, đạt 77,75% kế hoạch, tăng 11,22% so cùng kỳ năm trước.

5.1. Nông nghiệp:

* Về trồng trọt: Tính đến nay diện tích gieo trồng lúa các vụ : Mùa , Đông Xuân, Xuân Hè và Hè Thu được 673.851 ha giảm 1,08% (7.433ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng sơ bộ (chưa kể vụ Thu Đông) là 3.665.588 tấn, bằng 87,65% so với cùng kỳ năm trước và đạt 78,02% so với KH sản lượng lúa cả năm 2016.       

Kết quả từng vụ đạt được như sau:

* Vụ Mùa: Kết thúc gieo trồng với diện tích 60.128 ha, đạt 95,44% kế hoạch bằng 95,51 % so cùng kỳ ( giảm so cùng kỳ 2.828 ha ); Trong đó huyện An Minh giảm 2.743 ha, U Minh Thượng giảm 835 ha,Vĩnh Thuận tăng 750 ha. Nguyên nhân diện tích lúa Mùa năm nay giảm so cùng kỳ năm trước là do một số diện tích sản xuất tôm lúa bị nhiễm mặn không gieo trồng lúa được, ngoài ra do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài, mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, nên vụ Mùa ở các huyện thuộc vùng U Minh Thượng bị thiệt hại 33.639 ha, trong đó thiệt hại không cho thu hoạch là 29.528 ha.

Diện tích lúa Mùa thu hoạch chỉ với diện tích 30.600 ha chỉ bằng 1/2 diện tích đã gieo sạ, và bằng 48,57% so với KH và bằng 49,6% so cùng kỳ, năng suất gieo trồng bình quân đạt 1,79 tấn/ha, giảm 2,71 tấn/ha so với cùng kỳ, sản lượng đạt 107.539 tấn, bằng 37,03 % kế hoạch (giảm 182.873 tấn), bằng 37,97% so với cùng kỳ (giảm 175.717 tấn).

* Vụ Đông xuân: Kết thúc vụ Đông xuân, chính thức diện tích gieo trồng 301.078 ha đạt 98,71% kế hoạch, bằng 97,96% so với năm trước (giảm 6.266 ha). Diện tích thu hoạch 293.185 ha; năng suất gieo trồng đạt 6,15 tấn/ha và sản lượng là 1.850.348 tấn, đạt 83,68% kế hoạch, giảm 16,82% so với năm trước (giảm 374.120 tấn).

Diện tích, năng suất, sản lượng vụ đông xuân năm nay đều giảm so với năm trước, nguyên nhân do ảnh hưởng thời tiết nắng hạn kéo dài, tình hình xâm nhập mặn sâu vào nội đồng nên đã ảnh hưởng đến năng suất, diện tích bị mất trắng không thu hoạch là 7.893 ha xảy ra ở các huyện Hòn Đất 4.285 ha; An Biên 2.948 ha và huyện Kiên Lương 660 ha.

* Ảnh hưởng thiên tai trong vụ Mùa và Đông Xuân 2015-2016.

Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 20/1/2016; Quyết định 331/QĐ-UBND ngày 04/02/2016; Quyết định 700/QĐ-UBND tỉnh về việc công bố thiên tai gây thiệt hại sản xuất lúa vụ Mùa và Đông Xuân năm 2015-2016 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; căn cứ các Quyết định công bố thiên tai của UBND tỉnh, ngành Nông nghiệp - PTNT đã trình UBND tỉnh phân bổ tạm ứng kinh phí cho các địa phương hỗ trợ nông dân sản xuất lúa vụ Mùa và Đông Xuân 2015-2016 bị thiệt hại do thiên tai (đợt 1) với số hộ bị thiệt hại 18.125 hộ, số tiền 139,327 tỷ đồng. Đồng thời, Sở Nông nghiệp-PTNT tham mưu cho UBND tỉnh tiếp tục phân bổ kinh phí thiệt hại sản xuất cho vụ lúa Mùa và Đông Xuân 2015-2016 ( đợt 2) với tổng số tiền 324,259 tỷ đồng.

     Như vậy, tổng diện tích sản xuất lúa bị thiệt hại trong vụ Mùa và Đông Xuân 2015-2016 của các địa phương trong tỉnh là 37.421 ha mất trắng. Trong đó: vụ Mùa là 29.528 ha và vụ Đông Xuân là 7.893 ha.

Theo báo cáo của BCH phòng, chống thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn tỉnh Kiên Giang ước tổng giá trị thiệt hại về vật chất do thiên tai là 2.360,837 tỷ đồng.

* Vụ Xuân hè: Diện tích gieo trồng được 17.256 ha, tăng 61,84% so với cùng kỳ (tăng 6.594 ha), năng suất đạt 5,34 tấn/ha, giảm 0,17 tấn/ha so với cùng kỳ, nguyên nhân do một số diện tích ở huyện Giang Thành bị chuột cắn phá làm giảm năng suất. Sản lượng đạt 92.150 tấn, tăng 56,90%  (tăng 33.417 tấn) so cùng kỳ.

* Vụ hè thu: Kết thúc gieo trồng toàn tỉnh được 295.389 ha, đạt 97,80% kế hoạch, giảm 1,64% (4.933 ha) so với cùng kỳ. Đến nay đã thu hoạch 184.489 ha, năng suất ước đạt 5,4 tấn/ha.Tiến độ gieo sạ vụ hè thu năm nay kết thúc chậm so với lịch thời vụ, nguyên nhân là do thời tiết nắng hạn kéo dài, nguồn nước nhiễm mặn. Một số diện tích đã gieo sạ nhưng do nắng nóng kéo dài, nước mặn xâm nhập đã làm thiệt hại 177 ha (huyện An Biên)

Tính đến thời điểm này, diện tích lúa Hè thu bị nhiễm sâu bệnh 1.345 ha, chủ yếu là bệnh Lem lét hạt 750 ha, Đạo ôn lá 110 ha, Cháy bìa lá 110 ha, Đạo ôn cổ bông 380 ha.

Hiện nay, tình hình thời tiết mưa giông thường xảy ra bất thường, làm lúa bị ngã đổ sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cũng như tiến độ thu hoạch của bà con. Mặt khác, giá lúa thị trường không ổn định và dao động ở mức giá thấp, giá vật tư nông nghiệp vẫn giữ ở mức cao làm ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của nông dân; do tác động của thị trường nên các doanh nghiệp chưa tích cực tham gia trong triển khai chủ trương hợp đồng tiêu thụ sản phẩm... Cùng với đó là dịch bệnh có xu hướng gia tăng; đề nghị Ngành nông nghiệp tăng cường chỉ đạo các huyện, thị và các cơ quan chuyên môn có biện pháp  hướng dẫn nông dân thu hoạch, bảo quản lúa cũng như có biện pháp phòng, trị bệnh hữu hiệu nhằm hạn chế thấp nhấtthiệt hại xảy ra.

* Vụ Thu Đông (vụ 3): Sau khi thu hoạch xong vụ hè thu các địa phương tiến hành gieo trồng lúa thu đông, tính đến nay đã xuống giống được 92.182 ha, đạt  82,30 % so với kế hoạch và tăng 4,54% so với cùng kỳ, tập trung ở các huyện Giồng Riềng 40.005 ha, Tân Hiệp 33.699 ha, Châu Thành 7.276 ha, Hòn Đất 7.690 ha, Gò Quao 2.462 ha,  Rạch Giá 650 ha và Giang Thành 400 ha.

Diện tích  bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Thu đông là 2.035 ha, chủ yếu là một số bệnh như: Lem lét hạt 1.292 ha, Cháy bìa lá 743 ha.   

* Vụ Mùa 2016-2017: Một số huyện có diện tích canh tác lúa mùa cũng đã tiến hành chuẩn bị đất, gieo mạ để chuẩn bị gieo trồng vụ Mùa 2016-2017, đến nay có Thị Xã Hà Tiên bà con đã gieo trồng lúa vụ mùa được 501ha.

* Cây rau màu: Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh nông dân gieo trồng màu chủ yếu như: Dưa hấu trồng được 760 ha, đạt 47,50% kế hoạch năm, bằng 73,43% so cùng kỳ; khoai lang 765 ha, đạt 49,35% so kế hoạch năm, bằng 89,68% so cùng kỳ; rau đậu các loại 3.716 ha, đạt 43,72% so kế hoạch và tăng 1,75% so cùng kỳ năm trước...

* Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc,  gia cầm từ đầu năm đến nay phát triển ổn định và có tăng nhẹ so với cùng kỳ, một phần do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, giá cả tiêu thụ đàn gia súc, gia cầm ổn định và có tăng nhẹ làm cho người nuôi có lãi nên bà con yên tâm tái đàn, mặt khác là do ngành Thú y tỉnh đã quản lý tốt dịch bệnh, từ đầu năm đến nay chưa phát hiện ổ dịch lớn nào xảy ra trên địa bàn tỉnh.

5.2. Lâm nghiệp:

Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng được các ngành chức năng thường xuyên quan tâm, phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân bảo vệ rừng, tuần tra, kiểm soát để ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ việc chặt phá rừng trái phép. Năm nay, do thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài từ đầu năm đến nay đã xảy ra 10 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 5,7 ha rừng ( Phú Quốc 6 vụ) và xảy ra 30 vụ phá rừng, làm thiệt hại khoảng 4,02 ha rừng, vi phạm chủ yếu là phá rừng phòng hộ ven biển  ở các huyện ( huyện An Biên, An Minh, Phú Quốc, Kiên Lương ).

Ước tính trong 9 tháng năm 2016 lượng gỗ khai thác (tính cả tràm) được 21.713 m3, bằng 99,98% so cùng kỳ năm trước.

5.3. Thủy sản:

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010): Tháng 9 ước tính đạt 2.891,19 tỷ đồng tăng 15,34% so với tháng trước và tăng 34,25% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: giá trị khai thác 1.224,90 tỷ đồng, bằng 97,88% so tháng trước và giá trị nuôi trồng 1.666,28 tỷ đồng, tăng 32,76% so tháng trước.

Ước tính 9 tháng đầu năm 2016 giá trị sản xuất khai thác và nuôi trồng 18.774,27 tỷ đồng, đạt 77,75% so kế hoạch năm và tăng 11,22%  so với cùng kỳ năm 2015, trong đó: giá trị  khai thác 10.693,45tỷ đồng, đạt 84,42% so kế hoạch, tăng 14,14% so cùng kỳ và giá trị nuôi trồng 8.080,82 tỷ đồng, đạt 70,39% kế hoạch, tăng 7,58% so cùng kỳ năm 2015.

Tổng sản lượng thủy sản ( khai thác và nuôi trồng) trong tháng 9 ước đạt 69.025tấn, tăng 5,82 % so tháng trước. Luỹ kế 9 tháng là  529.584 tấn, đạt 76,50% kế hoạch năm và tăng 4,01% (tăng 20.439 tấn) so cùng kỳ năm 2015.

Sản lượng khai thác: Tháng 9 ước tính được 44.042 tấn thủy hải sản các loại, bằng 99,09% so tháng trước và tăng 2,64% so cùng kỳ năm trước, trong đó: cá các loại 31.458 tấn, giảm 0,59% so tháng trước; tôm các loại 3.330 tấn, tăng 0,45%; mực 5.945 tấn, giảm 0,4%; thủy hải sản khác 3.309 tấn, giảm 5,94% so tháng trước.

Luỹ kế 9 tháng, sản lượng khai thác là 389.642 tấn, đạt 78,05% kế hoạch năm và tăng 5,49% (tăng 20.296 tấn) so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: cá các loại 279.564 tấn, tăng 9,29% (tăng 23.769 tấn); tôm 27.841 tấn, giảm 9,29% (giảm 2.850 tấn); mực 50.107 tấn, tăng 5,45% (tăng 2.588 tấn) và thủy sản khác 32.130 tấn, giảm 9,09% (giảm 3.211 tấn).

Sản lượng nuôi trồng: Tháng 9 ước đạt 24.983 tấn, tăng 20,22%  so tháng trước (tăng 4.202 tấn). Trong đó: cá nuôi 6.274 tấn, tăng 1,08%; tôm nuôi 8.636 tấn, tăng 17,74% (tăng 1.301 tấn), bao gồm: tôm sú 6.764 tấn, tăng 1.168 tấn và tôm thẻ chân trắng 1.460 tấn, giảm 44 tấn; thủy sản khác 10.073 tấn, tăng 39,15% (tăng 2.834 tấn).

Luỹ kế 9 tháng, sản lượng nuôi trồng là 139.942 tấn, đạt 72,51% kế hoạch năm, bằng 100,10% (tăng 143 tấn) so cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá nuôi 42.719 tấn, đạt 64,48% kế hoạch, giảm 7,13% (giảm 3.280 tấn); tôm các loại 41.351 tấn, đạt 72,55% kế hoạch và tăng 7,93% (tăng 3.037 tấn), trong đó: tôm thẻ chân trắng 7.925 tấn, đạt 41,44% kế hoạch, giảm 4,88% (giảm 407 tấn)… Sản lượng tôm tăng chủ yếu là tôm sú nuôi ở vùng bán đảo cà mau, do nước mặn xâm nhập sâu nên diện tích tôm lúa bà con không thể trồng lúa mà vẫn thả tôm nuôi vụ 2 và đang thu hoạch, riêng tôm thẻ lại giảm và đạt thấp so với kế hoạch là do thời tiết khắc nghiệt dẫn đến thường xảy ra dịch bệnh trên tôm nuôi, nên các doanh nghiệp và hộ dân chỉ thả nuôi cầm chừng, không dám đầu tư mở rộng ao nuôi, cũng như không dám nuôi luân canh nhiều vụ như các năm trước. Dự báo sản lượng tôm thẻ sẽ không đạt kế hoạch đề ra.

6. Thương mại, dịch vụ và giá cả

6.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định và có xu hướng tăng hơn cùng kỳ năm trước, với lượng hàng hóa cung cấp dồi dào, đa dạng, giá cả hợp lý để phục vụ nhân dân trong các dịp lễ, Tết..., ngoài ra thực hiện các chương trình khuyến mãi và đưa hàng về nông thôn của các doanh nghiệp và hệ thống siêu thị cũng góp phần nâng tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh.

Theo  kết quả điều tra, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ phục vụ tiêu dùng trong tháng 9 đạt 6.352,84 tỷ đồng, tăng 5,52% so tháng trước và và tăng 13,43% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2016 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ phục vụ tiêu dùng ước thực hiện 51.840,65 tỷ đồng, đạt 71,80% kế hoạch năm và tăng 13,29% so cùng kỳ năm 2015.

Cụ thể doanh thu 9 tháng đầu năm 2016 trên từng loại hình kinh tế và ngành kinh tế đạt được như sau:

- Kinh tế nhà nước: 2.343,84 tỷ đồng, giảm 6,72% so cùng kỳ năm 2015;

- Kinh tế ngoài nhà nước: 49.496,81 tỷ đồng,  tăng 14,45%;

Chia ra:

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 9 ước thực hiện được 4.940,03 tỷ đồng, tăng 6,08% so tháng trước và tăng 14,41% so cùng kỳ. Luỹ kế 9 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa được 39.833,13 tỷ đồng, đạt 71,17% kế hoạch và tăng 12,34% so cùng kỳ năm trước (Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 10,02%).

* Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Dự kiến doanh thu tháng 9 được 631,52 tỷ đồng, tăng 5,62% so tháng trước. Luỹ kế 9 tháng doanh thu thực hiện được 5.293,51 tỷ đồng, đạt 75,62% so kế hoạch năm, tăng 14,70% so cùng kỳ năm 2015. Bao gồm: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.014,61 tỷ đồng, tăng 73,81% và doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 4.278,89 tỷ đồng, tăng 6,14%.

* Doanh thu du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 9 thực hiện  15,78 tỷ đồng, giảm 9,75% so tháng trước. Dự kiến 9 tháng doanh thu du lịch lữ hành 157,08 tỷ đồng, đạt 68,30% kế hoạch năm, tăng 24,54%  so cùng kỳ năm trước.

* Doanh thu dịch vụ khác: Tháng 9/2016 doanh thu dịch vụ khác ước tính  765,50 tỷ đồng, tăng 2,35% so với tháng trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản 204,9 tỷ đồng, giảm 6,29%; dịch vụ sửa chữa đồ dùng cá nhân gia đình 14,19 tỷ đồng, tăng 5,38%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội 132,31 tỷ đồng, giảm 0,68%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí 222,92 tỷ đồng, giảm 5,36% ....

Tính chung 9 tháng doanh thu các hoạt động dịch vụ đạt 6.556,93 tỷ đồng, đạt 72,85%  so kế hoạch năm, tăng 17,11% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản 2.943,51 tỷ đồng, tăng 35,64%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội 874,16 tỷ đồng, tăng 2,06 lần; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí 2.260,18 tỷ đồng, tăng 2,86% ....

* Về công tác quản lý thị trường: Trong tháng 8 năm 2016 đã kiểm tra 226 vụ việc, phát hiện 38 vụ vi phạm qui định của nhà nước, trong đó có 18 vụ buôn bán vận chuyển hàng cấm, hàng lậu; 5 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm; 3 vụ vi phạm hàng giả, hàng kém chất lượng, 7 vụ vi phạm trong kinh doanh và 5 vụ vi phạm gian lận thương mại. Đã xử lý các vụ vi phạm, phạt hành chính và bán hàng hoá tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước 766,56 triệu đồng. Luỹ kế 8 tháng 2016  kiểm tra 1.520 vụ việc, phát hiện 378 vụ vi phạm qui định của nhà nước. Đã xử lý các vụ vi phạm, phạt hành chính và bán hàng hoá tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước 5,63 tỷ  đồng.

6.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu: Tháng 9 ước tính đạt 31,39 triệu USD, bằng 76,14% so với tháng trước và giảm 3,03% so cùng kỳ năm trước, trong đó: hàng nông sản 16,71 triệu USD, giảm 39,64% so tháng trước, giảm 17,16% so cùng kỳ năm trước; hàng thủy sản 12,94 triệu USD, tăng 8,60% so tháng trước và tăng 16,71% so cùng kỳ 2015.

Trong  tháng 9 những Công ty xuất khẩu gạo chủ lực của tỉnh dự kiến xuất giảm so với tháng trước do đã thực hiện xong các hợp đồng cũ, hợp đồng mới còn gặp khó khăn do phải cạnh tranh giá cả với gạo của các nước trong khu vực, dự kiến xuất là 38.823 tấn  bao gồm:  Công ty Du lịch- Thương mại dự kiến xuất 6.625 tấn với trị giá trên 2,5 triệu USD; Công ty CP kinh doanh nông sản ước xuất 4.534 tấn với trị giá gần 1,6 triệu USD; Công ty xuất nhập khẩu Kiên Giang dự kiến xuất 27.014 tấn, trị giá trên 12,2 triệu USD; Công ty CP Nông lâm sản dự kiến uỷ thác xuất 650 tấn, trị giá trên 234 ngàn USD. Công ty MTV Thương mại-dịch vụ không dự kiến xuất; Còn lại các Công ty như Thuận Phát, Kiên An… chưa thấy hoạt động xuất khẩu trở lại.

Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 269,63 triệu USD, đạt 61,28% kế hoạch năm và tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: hàng nông sản 161,76 triệu USD, đạt 63,44% kế hoạch năm và tăng 15,18% so cùng kỳ; hàng thủy sản 93,39 triệu USD, đạt 60,26% kế hoạch và giảm 2,64%; hàng hóa khác 14,47 triệu USD, đạt 48,24% kế hoạch và giảm 14,81% so cùng kỳ năm 2015.

Các mặt hàng xuất khẩu 9 tháng  đều đạt thấp so với kế hoạch và giảm so cùng kỳ năm trước. Riêng mặt hàng Gạo dự kiến xuất 364.176 tấn, đạt 58,74% kế hoạch năm, tăng 8,75% so cùng kỳ năm 2015; tôm đông 1.942 tấn, đạt 84,43% so kế hoạch năm, tăng 36,57%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu: Tháng 9 ước tính đạt 2,75 triệu USD, tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 10% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng trị giá nhập ước được 37,73 triệu USD, đạt 58,05% kế hoạch năm và giảm 2,54% so cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu dùng cho sản xuất, lượng nhập trong 9 tháng gồm: thạch cao 92,6 ngàn tấn, tăng 66,04% so cùng kỳ; giấy Kratp 385 tấn, tăng 9,07% ; hạt nhựa 629 tấn, giảm 52,95%.

6.3 Vận tải

Vận tải hành khách: Tháng 9 vận tải hành khách ước tính 5,65 triệu lượt khách, bằng 97,38% so tháng trước; luân chuyển 317,12 triệu HK.km, bằng 97,54% so tháng trước. Luỹ kế 9 tháng vận tải hành khách ước thực hiện 52,36 triệu lượt khách, đạt 76,40% kế hoạch và tăng 10,98% so cùng kỳ năm trước và luân chuyển 3.388,73 triệu HK.km, đạt 84,01%  kế hoạch và tăng 11,74%. Bao gồm: Vận tải hành khách đường bộ 42,19 triệu lượt khách, tăng 11,29% so cùng kỳ và luân chuyển 2.712,72 triệu lượt khách.km, tăng 12,32%; vận tải hành khách đường sông 8,62 triệu lượt khách, tăng 8,82% và luân chuyển 511,84 triệu lượt khách.km, tăng 9,27%; Vận tải hành khách đường biển 1,55 triệu lượt khách, tăng 14,86% và luân chuyển 164,17 triệu lượt khách.km, tăng 10,05% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa: Tháng 9 vận tải hàng hóa ước tính 841 ngàn tấn, bằng 97,56% so tháng trước; luân chuyển 116,62 triệu tấn.km, bằng 97,69% so tháng trước. Luỹ kế 9 tháng,  vận tải hàng hóa ước tính 7,42 triệu tấn, đạt 73,80% kế hoạch năm và tăng 7,12% so cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.000,08 triệu tấn.km, đạt 73,28% kế hoạch và tăng 6,58%. Gồm: Vận tải hàng hóa đường bộ 2,28 triệu tấn, tăng 7,37% so cùng kỳ và luân chuyển 317,09 triệu tấn.km, tăng 6,85%; Vận tải hàng hóa đường sông 3,05 triệu tấn, tăng 6,75% và luân chuyển 382,02 triệu tấn.km, tăng 6,51% so với cùng kỳ; vận tải hàng hóa đường biển 2,08 triệu tấn, tăng 7,42% và luân chuyển 300,96 triệu tấn.km, tăng 6,39% so cùng kỳ.

Trong 9 tháng doanh thu vận tải thực hiện trên 6.564,93 tỷ đồng, tăng 13,98% so cùng kỳ năm trước.

6.4. Bưu chính - Viễn thông

Hoạt động Bưu chính, Viễn thông vẫn phát triển, thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin liên lạc cho mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông tăng cường các chương trình khuyến mãi thuận lợi cho nhu cầu người sử dụng. Ước tính tổng doanh thu bưu chính và viễn thông 9 tháng năm 2016 đạt 1.566 tỷ đồng, đạt 72,53% kế hoạch, trong đó doanh thu viễn thông ước tính 1.498 tỷ đồng, đạt 73,11%; doanh thu bưu chính được 68 tỷ đồng, đạt 61,82% so kế hoạch năm.

Hoạt động cung cấp dịch vụ các doanh nghiệp bưu chính trên địa bàn tỉnh 6 tháng  như sau: Tổng số Bưu cục các cấp là 30. Trong đó, Bưu cục cấp I: 1; cấp II: 14; cấp III: 11 và 04 Ki ốt. Có 140 điểm Bưu điện - Văn hóa xã (có 21 điểm hoạt động Internet) và 5 Đại lý Bưu điện; bán kính phục vụ: 3,3 Km; dân số phục vụ: 9.275 người/điểm.

Hoạt động cung cấp dịch vụ các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng  như sau: Tổng số thuê bao điện thoại hiện có trên mạng 2.057.484 thuê bao. Trong đó thuê bao điện thoại cố định hữu tuyến 58.025 thuê bao (giảm 368 thuê bao); thuê bao điện thoại cố định vô tuyến 12.648 thuê bao (giảm 211 thuê bao); thuê bao điện thoại di động trả trước 1.933.378 thuê bao; thuê bao điện thoại di động trả sau 53.433 thuê bao. Tổng số thuê bao Internet hiện có trên mạng 137.808 thuê bao.

6.5. Du lịch

   Tổng lượt khách du lịch tháng 9 ước tính  337,52 ngàn lượt khách, giảm 22,95% so tháng trước. Trong đó: Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 183,19 ngàn lượt khách, giảm 15,21%; số khách quốc tế  19,32 ngàn lượt khách, giảm 0,57%. Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch bao gồm: số lượt khách từ cơ sở lưu trú du lịch phục vụ đạt 171,67 ngàn lượt khách, giảm 14,85% so với tháng trước; khách du lịch đi theo tour đạt 11,52 ngàn lượt khách, giảm 20,31% so tháng trước.

   Tính chung 9 tháng, tổng lượt khách du lịch thực hiện 4.550,17 ngàn lượt khách, đạt 92,11% kế hoạch và tăng 29,45% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch 2.036,87 ngàn lượt khách, đạt 80,51% kế hoạch và tăng 37,10%. Trong đó  Số khách quốc tế đạt 228,57 ngàn lượt khách, đạt 81,63% kế hoạch, tăng 34,88% so với cùng kỳ; khách du lịch đi theo tour đạt 101,76 ngàn lượt khách, đạt 52,19% kế hoạch, giảm 12,92% so cùng kỳ năm 2015.

  Trong 9 tháng đầu năm nay, số khách du lịch đến tỉnh tăng cả từ khách trong nước cũng như khách nước ngoài. Sự phát triển thêm một số tuyến du lịch trên các đảo như: Nam Du thuộc huyện Kiên Hải, Quần đảo Bà Lụa thuộc huyện Kiên Lương, quần đảo hải tặc thuộc xã Tiên Hải, thị xã Hà Tiên … Là một trong những điều kiện thuận tiện cho ngành du lịch tỉnh nhà phát triển bền vững, tuy nhiên số khách trong nước đến tỉnh còn khiêm tốn và chưa lưu trú được lâu, điều này đặt ra cho ngành du lịch cần có các biện pháp nhằm phát huy tiềm năng du lịch sẵn có của tỉnh, đồng thời tìm giải pháp thu hút khách đến tỉnh ngày càng nhiều và giữ được khách lưu trú lâu hơn, nhằm tăng giá trị gia tăng của ngành, đóng góp thêm vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh trong thời gian tới.

6.6. Chỉ số giá

   * Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng (tính từ 16/8 đến 15/9/2016) tăng 0,30% so với tháng trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,38%, khu vực nông thôn tăng 0,25%.

Những nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng trong tháng tăng là do nhóm Giáo dục tăng 7,75%; nhóm giao thông tăng 0,60%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt tăng 0,03%. Các nhóm còn lại giảm như nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm -0,34%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm -0,03%... các nhóm còn lại không tăng, không giảm.

Sau 1 năm (Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2016 so với tháng 9/2015) tăng 2,66%, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất là 18,82%; kế đến là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 8,68%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 7,50%... Các nhóm giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm -5,95% và nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm -9,01%...

* Chỉ số giá vàng: Tính đến ngày 15/9/2016 giá vàng 9999 với giá bán ra 3.566.000 đ/chỉ (giảm 15.000 đồng/chỉ so với tháng trước). So với cùng tháng năm trước tháng 09/2015 tăng 15,51%

* Chỉ số giá Đô la Mỹ: Đến thời điểm điều tra ngày 15/09/2016 giá USD được điều chỉnh tăng nhẹ, tại thị trường tự do bán 2.232.000 đ/100 USD. So với cùng tháng năm trước giảm (-1,05%).

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Tình hình đời sống dân cư: Đời sống của các tầng lớp dân cư trong tỉnh 9 tháng qua có nhiều biến động hơn so với năm trước, tuy nhiên hiện nay nhìn chung đã có bước tiến triển, tương đối ổn định hơn so với những tháng đầu năm 2016. Nhiều chính sách có hiệu lực trong quý 3 này như chính sách nâng lương cơ bản của Bộ Tài chính có hiệu lực từ 1/7, áp dụng quy định xử phạt giao thông mới…Làm cho đời sống cán bộ, công chức, các tầng lớp dân cư trong tỉnh có phần nào biến động. Công chức, cán bộ, người lao động hưởng lương thì vui mừng vì có thêm thu nhập trang trải cuộc sống, bên cạnh niềm vui mừng phấn khởi cũng là các mối lo về giá cả các mặt hàng như gas, xăng dầu, thực phẩm…tăng theo lương.

Công tác an sinh xã hội các chính sách giải quyết việc làm, đào tạo nghề, xây dựng nhà đối với người có công với cách mạng tại các huyện, thị xã, thành phố được quan tâm; trợ cấp thường xuyên cho đối tượng bảo trợ xã hội, người có công... kịp thời. Chú trọng việc thăm tặng quà cho đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân kỷ niệm ngày Thương binh liệt sỹ, tổ chức tốt Lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia. Quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương tựa tại cơ sở Bảo trợ xã hội.

Đời sống dân cư nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, do ảnh hưởng của hiện tượng El-Nino thời tiết khắc nghiệt, nắng hạn kéo dài, mặn xâm nhập sâu, thiếu nước ngọt làm ảnh hưởng đến diện tích trồng lúa, nuôi tôm. Lúa vụ mùa, vụ đông xuân  bị nhiễm mặn, khô hạn làm nhiều hộ dân mất trắng không thu hoạch được, tôm bị dịch bệnh do thời tiết khô nóng khiến đời sống bà con một số huyện bị ảnh hưởng trầm trọng. Nhiều hộ gia đình trắng tay tiền vay nợ ngân hàng đầu tư không trả được, một số bộ phận dân cư bỏ ruộng vườn đi làm thuê kiếm sống tại các khu đô thị, các khu công nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương...

7.2. Lao động, việc làm: 9 tháng đầu năm 2016, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 24.354 lượt người lao động đạt 73,8% so với kế hoạch (tăng 2,23% so với quý II/2016), trong đó: trong tỉnh 10.175 lượt lao động, ngoài tỉnh 14.123 lượt lao động, xuất khẩu lao động 56 lao động ra nước ngoài làm việc; Giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 3.030 lao động (tăng 41,29% so với quý II/2016). Cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại các đơn vị và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 28 giấy phép (trong đó: cấp mới 21, cấp lại 4 và xác nhận 3). Tổ chức 02 phiên giao dịch việc làm, đã thu hút với 2.534 lao động tham gia, số lao động được tuyển dụng 177 lao động. Số doanh nghiệp đăng ký tham gia tuyển dụng tại phiên giao dịch là 32 doanh nghiệp.

Công tác đào tạo nghề: 9 tháng năm 2016 các cơ sở đào tạo nghề trong tỉnh tổ chức dạy nghề cho 11.302 người (trong đó: Cao Đẳng nghề: 336 sinh viên, Trung cấp nghề 1.092 người,  sơ cấp nghề 4.091 người, dạy nghề dưới 3 tháng 5.783 người). Triển khai xây dựng Đề án thành lập trường Trung cấp nghề Việt – Hàn tại huyện Phú Quốc. Tổ chức hội thi tay nghề lần thứ II năm 2016, có 4 thí sinh đạt kết quả xuất sắc và chọn tham gia cấp toàn Quốc.

7.3. Về chính sách an sinh xã hội

Công tác giảm nghèo: Theo kết quả điều tra hộ nghèo[2], cận nghèo giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh có 41.202 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 9,78%, hộ cận nghèo có 13.699 hộ chiếm tỷ lệ 3,25% (Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí tiếp cận đa chiều).

Phòng Lao động - TB&XH các huyện, thị xã tiếp nhận 3.000 phần quà cho hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vinpearl Phú Quốc hỗ trợ. Tham mưu UBND tỉnh tặng quà tết Nguyên đán cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo với tổng số tiền 14.939 triệu đồng (trị giá 500.000đ/suất).

Triển khai kế hoạch thực hiện mô hình hỗ trợ 36 hộ gia đình người di cư tự do từ Campuchia về tỉnh Kiên Giang chưa có hộ tịch hộ khẩu, đời sống khó khăn.

Báo cáo kết quả khảo sát thông tin đối ngoại và tuyên truyền phân giới, cắm mốc về hoạt động xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại các khu vực biên giới tỉnh Kiên Giang cho Đoàn liên ngành Trung ương. Rà soát các xã đặc biệt khó khăn bãi ngang ven biển và hải đảo trên địa bàn tỉnh, lên kế hoạch hỗ trợ người di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam sinh sống.

 Bảo trợ xã hội: Thực hiện Tháng hành động vì người cao tuổi trên địa bàn tỉnh; Quyết định về định mức trợ cấp, trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh.

Báo cáo kết quả thực hiện tháng hành động vì trẻ em trên địa bàn tỉnh, trong Tháng hành động đã tổ chức 85 lễ phát động, 292 hoạt động vui chơi giải trí cho 63.516 lượt trẻ em tham gia; có 19.025 trẻ được thăm hỏi, trợ giúp tặng quà, học bổng trị giá 2,345 tỷ đồng. Tổng kinh phí tháng hành động vì trẻ em là 2,668 tỷ đồng. Phối hợp với các Sở, ban ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức các hoạt động Tết Trung thu năm 2016 cho trẻ em; vận động các doanh nghiệp, nhà tài trợ tổ chức trao hơn 1.000 suất quà và học bổng, trị giá trên 200 triệu đồng và chi phí tổ chức Đêm hội Trung thu làm điểm của tỉnh tập trung cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở các xã vùng sâu, vùng biên giới, trẻ em khuyết tật đang được nuôi dưỡng ở các Trung tâm chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại huyện Tân Hiệp.

Thực hiện chính sách với người có công:

Trong 9 tháng đầu năm 2016 đã hỗ trợ về nhà ở cho người có công là 2.728 căn nhà đạt 67,35%, với tổng kinh phí 82,419 triệu đồng đạt 55,04% so kế hoạch, trong đó: xây mới 1.611căn nhà, sửa chữa 1.117 căn nhà.

Phối hợp với Ban Tổ chức tỉnh tổ chức Lễ phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và tổ chức Đoàn đến gia đình công bố Quyết định của Chủ tịch nước và trao tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng đợt VI năm 2016 (phong tặng: 13 mẹ, truy tặng 125 mẹ). Tham mưu UBND tỉnh tổ chức thăm tặng quà người có công với tổng kinh phí  729.200.000 đồng nhân dịp lễ; Tổ chức Đoàn tặng quà của Chủ tịch nước kịp thời đến người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh liệt sĩ. Tham mưu UBND tỉnh tổ chức tốt Lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia  tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Hòn Đất với 51 bộ hài cốt liệt sĩ (trong đó: quy tập tại Campuchia 49 bộ, trên địa bàn tỉnh 02 bộ). Hoàn thành việc nhập thông tin phiếu vào phần mềm quản lý điều tra thông tin về liệt sĩ, thân nhân liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh. Tổ chức Đoàn người có công đi điều dưỡng tập trung trong tỉnh với 155 người có công với cách mạng. Trong qúy xác lập, thẩm định 680 hồ sơ người có công các loại, nâng tổng số hồ sơ từ đầu năm đến nay lên 3.524 hồ sơ.

7.4. Tình hình Giáo dục

Năm học 2015-2016 kết thúc, toàn tỉnh có 649 trường, tăng 10 trường so với năm học trước, (bao gồm: 136 trường mầm non, tăng 10 trường; còn lại tiểu học: 296 trường; Trung học cơ sở: 122 trường; Phổ thông cơ sở 44 trường; Trung học phổ thông 51 trường, và GDTX 15 trường, không tăng giảm); hệ giáo dục phổ thông huy động được 10.131 lớp học và 290.558 học sinh (giảm 49 lớp và tăng 1.824 học sinh); tổng số giáo viên 16.471 người, tăng 0,84% (tăng 137 giáo viên) so năm học trước, (bao gồm: 9.054 giáo viên tiểu học, tăng 112 giáo viên, 5.306 giáo viên trung học cơ sở tăng 30 giáo viên và 2.111 giáo viên trung học phổ thông, giảm 5 giáo viên). Toàn tỉnh có 194 trường đạt chuẩn quốc gia (MN 31, TH 106, THCS 54, THPT 03), đạt tỷ lệ 29,22%, tăng 47 trường so với năm học trước. Số học sinh bỏ học các cấp học đều giảm so với năm học trước, tỷ lệ học sinh tiểu học bỏ học là 0,21%; Trung học cơ sở là 0,97% (giảm - 0,08%) và Trung học phổ thông 1,51% (giảm -0,22%).

Năm học 2016-2017(Tính đến ngày 15/9/2016): Toàn tỉnh có 686 đơn vị, trường học (MN 154, TH 296, PTCS 44, THCS 125, THPT 52, TT.GDTX 13, TC.KTNV 01, TT.NNTH 01); có 1.942 điểm trường, 11.850 lớp; huy động 331.805 học sinh (MN 42.890, TH 155.392, THCS 94.652, THPT 36.353, GDTX 2.514); trong đó trẻ 5 tuổi đạt tỷ lệ 98,10% dân số độ tuổi. So với cùng kỳ năm học 2015-2016, toàn ngành tăng 24 trường (MN 20, THCS 03, THPT 01); tăng 22 điểm trường, tăng 1.854 học sinh.

Toàn ngành giáo dục hiện có 23.978 cán bộ, giáo viên và nhân viên (CBQL 1.513, GV 18.944, CNV 3.521); tăng 137 giáo viên. So với yêu cầu nhiệm vụ, ngành còn thiếu trên 1.200 giáo viên, chủ yếu là giáo viên mầm non.

Tổng số phòng học hiện có là 10.198 phòng, trong đó phòng học cây tol 61 phòng, chiếm tỷ lệ 0,59%; so với cùng kỳ tăng 269 phòng.

Tổ chức lễ khai giảng: Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có công văn chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức khai giảng năm học mới đồng loạt vào ngày 05/9/2016 – “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”; riêng các cơ sở giáo dục ở địa bàn khó khăn, có thể tổ chức khai giảng sớm hơn (từ ngày 31/8/2016 đến 04/9/2016) nhằm tranh thủ sự chỉ đạo, quan tâm, hỗ trợ của các cấp lãnh đạo.

Ngày 01/9/2016, đồng chí Lê Hồng Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư; đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, UV.BCH TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Kiên Giang cùng đại diện các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương dự lễ khai giảng năm học 2016-2017 tại trường THPT Nguyễn Hùng Hiệp. Cùng ngày, đồng chí Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và đoàn công tác tham dự lễ khai giảng năm học 2016-2017 tại trường THPT Nguyễn Văn Xiện.

Ngày 03/9/2016, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Trần Minh Thống, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ; đồng chí Đặng Công Huẩn, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ cùng lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, đại diện lãnh đạo các ban, ngành của tỉnh và đại diện lãnh đạo UBND các huyện, thị, thành phố tham dự lễ khánh thành và khai giảng năm học 2016-2017 tại trường THPT Võ Văn Kiệt.

Tỉnh Kiên Giang đã tổ chức 11 đoàn gồm Thường trực Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các Ban Đảng và lãnh đạo một số ngành đến dự khai giảng ở 11 đơn vị, trường học trong tỉnh. Tại tất cả các trường, đều có đại diện cấp ủy, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể địa phương, Ban đại diện cha mẹ học sinh đến dự lễ khai giảng và tọa đàm.

7.5. Hoạt động Văn hóa, Thể thao: Ngành Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã tổ chức thành công các sự kiện lễ hội, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao phục vụ kỷ niệm các ngày lễ lớn đảm bảo đúng kế hoạch đề ra, tạo ấn tượng tốt như: Hoạt động tuyên truyền chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; Lễ hội đón Giao thừa Tết Nguyên đán tại thành phố Rạch Giá, huyện Phú Quốc, Kiên Lương, U Minh Thượng; Lễ công bố Năm Du lịch quốc gia 2016 - Phú Quốc - Đồng bằng Sông Cửu long, Lễ đón nhận Bằng công nhận Khu Ramsar, Vườn quốc gia U Minh Thượng và Lễ hội kỷ niệm 280 năm Ngày thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các (1736 - 2016); các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao kỷ niệm 41 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2016); 71 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2016) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2016); Lễ Khai mạc Năm Du lịch quốc gia 2016 - Phú Quốc - Đồng bằng Sông Cửu Long; Lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng huyện Tân Hiệp năm 2016; Lễ giỗ 4 nhà sư liệt sĩ, huyện Châu Thành; Lễ giỗ lần thứ 281 Đức khai trấn Mạc Cửu 2016 (1735 - 2016) tại thị xã Hà Tiên; các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Đã tham mưu thành lập Ban Tổ chức và các Tiểu ban, kế hoạch tổ chức Lễ hội truyền thống Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực năm 2016; Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang lần thứ X năm 2016. Chỉ đạo tổ chức lễ hội tại các di tích lịch sử văn hóa đảm bảo an toàn, trang trọng, thực hiện nghiêm Quy chế tổ chức lễ hội, tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý và tổ chức lễ hội.

Thể thao thành tích cao:  Các đội tuyển tham gia thi đấu 24 giải khu vực, toàn quốc, quốc tế, đạt 78 huy chương (20 HCV, 19 HCB, 39 HCĐ). Trong đó, đội tuyển Cờ vua tham dự 03 giải: Cờ vua - Cờ tướng mừng Đảng, mừng Xuân khu vực ĐBSCL mở rộng, Cờ vua Quốc tế mở rộng HD Bank lần thứ VI-2016, vô địch cờ vua các nhóm tuổi Đông Nam Á, đạt 05 huy chương (02 HCB, 03 HCĐ) và đạt chuẩn kiện tướng thế giới; đội tuyển Quần vợt tham dự 03 giải: Vô địch đồng đội toàn quốc tranh cúp Viettravel, vô địch Quần vợt nam toàn quốc và vô địch Quần vợt nữ toàn quốc 2016, đạt 02 huy chương (01 HCV, 01 HCĐ).

Phối hợp đăng cai tổ chức 05 giải thể thao khu vực, toàn quốc, quốc tế, với một số môn thể thao mới lần đầu tiên được đăng cai tổ chức tại Kiên Giang thu hút gần 550.000 lượt người xem và cổ vũ như: Giải Thuyền buồm tỉnh Kiên Giang mở rộng, với sự tham dự của 60 vận động viên thuộc 27 đội đến từ các tỉnh, thành trong nước và các nước Cộng hòa Séc, Mỹ, Pháp (06 vận động viên); giải Đua thuyền truyền thống vô địch Quốc gia năm 2016, với sự tham dự của 250 vận động viên đến từ 09 đội trong và ngoài tỉnh; giải Việt dã-Marathon quốc tế năm 2016, với sự tham dự của 200 vận động viên trong và ngoài nước, trong đó có 180 vận động viên đến từ 28 quốc gia; giải Vô địch thể hình các CLB toàn quốc năm 2016, với sự tham dự của 170 vận động viên đến từ các CLB trong nước; phối hợp với Liên đoàn Xe đạp - Mô tô Thể thao Việt Nam đăng cai tổ chức giải xe đạp Đồng bằng Sông Cửu Long tranh cúp Gạo Hạt Ngọc Trời lần thứ XXV năm 2016 với chủ đề “Cùng nông dân bảo vệ môi trường”, gồm 09 chặng đua với tổng cự ly là 1.043 km, có 75 vận động viên đến từ 15 đội đua của 10 tỉnh, thành phố tham gia. Củng cố lực lượng đội tuyển bóng đá trẻ chuẩn bị tham dự giải bóng đá U21 Quốc gia năm 2016.

- Thể dục thể thao quần chúng: Toàn Ngành tích cực đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại với nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân tỉnh Kiên Giang năm 2016, có 143/145 xã, phường, thị trấn tổ chức, có 105.670/1.762.281 số dân trong toàn tỉnh tham gia, chiếm 5,9% tổng số dân toàn tỉnh (tăng 46.995 người so với năm 2015). Số người tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên của tỉnh đạt 24,5% trên tổng số dân toàn tỉnh. Hệ thống thi đấu các giải thể thao từ tỉnh đến cơ sở từng bước nâng dần về quy mô, chất lượng và có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức tổ chức; đã tổ chức 04 giải thể thao cấp tỉnh như: Giải Võ cổ truyền, giải vô địch Thể hình tỉnh Kiên Giang lần thứ I năm 2016, giải vô địch Bóng đá tỉnh Kiên Giang năm 2016, giải Đua xe đạp thể thao (có 330 vận động viên đến từ 33 đơn vị tham gia).

7.6 Tình hình y tế: Theo Ngành Y tế từ ngày 1/12/2015 đến ngày 31/8/2016 tình hình dịch bệnh như sau:

Các bệnh truyền nhiễm: Bệnh Tay chân miệng Ghi nhận 604 trường hợp mắc, tăng 96 trường hợp so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tập trung nhiều ở Tp.Rạch Giá, Hòn Đất, Hà Tiên, Giồng Riềng, Gò Quao, An Minh, Vĩnh Thuận... không có tử vong. Bệnh tiêu chảy ghi nhận 4.044 trường hợp mắc. So với cùng kỳ năm trước giảm 926 trường hợp; Bệnh Thương hàn và Phó Thương hàn có 14 trường hợp mắc, So với cùng kỳ giảm 05 trường hợp; Bệnh Lỵ trực trùng có 121 trường hợp, so cùng kỳ giảm 45 trường hợp; Bệnh Lỵ Amip mắc 73 trường hợp, so cùng kỳ giảm 36 trường hợp; Bệnh Thủy đậu mắc 66 trường hợp, giảm 75 trường hợp so với cùng kỳ năm 2015.

Chương trình phòng chống sốt xuất huyết: 9 tháng toàn tỉnh ghi nhận có 656 trường hợp mắc, tử vong 01 trường hợp, tăng 383 trường hợp so với cùng kỳ năm trước. Các địa phương có số mắc nhiều là Phú Quốc, Hòn Đất, Rạch Giá, Vĩnh Thuận, Kiên Lương, Giồng Riềng, Châu thành, Tân Hiệp, Gò Quao, Kiên Hải. Năm nay so với cùng kỳ thì số cas mắc còn khá cao và có 1 cas tử vong. Điều này cho thấy tình hình sốt xuất huyết tuy được kiểm soát nhưng vẫn còn nguy cơ bùng phát thành dịch và tiềm ẩn những rủi ro cao.

Chương trình phòng, chống các bệnh xã hội và bệnh nguy hiểm cho cộng đồng: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tư vấn, khám phát hiện sớm và điều trị có hiệu quả, quản lý chặt chẽ các bệnh phong, lao, tâm thần. Trong 9 tháng phát hiện 05 BN phong, 1.931 BN lao, 58 BN tâm thần phân liệt và 81 BN động kinh.. Số BN quản lý điều trị đến nay là 464 BN phong, 4.561 BN lao, 2.244 BN tâm thần phân liệt và 2.796 BN động kinh.

Chương trình phòng, chống  HIV/AIDS: 9 tháng đã thực hiện xét nghiệm 55.632 người, phát hiện mới 92 cas HIV dương tính, giảm 41 cas so cùng kỳ. Theo số liệu của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 1.968 người, trong giai đoạn AIDS là 1.356 người. Trong 9 tháng, điều trị ARV cho 115 bệnh nhân HIV/AIDS, tích lũy số bệnh nhân điều trị là 1.228 người, trong đó  trẻ dưới 15 tuổi là 4 em.

7.7. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tính từ đầu năm đến nay đã thẩm định, cấp 606 Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện VSATTP, ký 709 Bản cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống; công bố 302 hồ sơ hợp quy, phù hợp quy định ATTP; Thực hiện thanh tra, kiểm tra 17.905 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, phát hiện 2.825 cơ sở vi phạm VSATTP theo quy định đã  xử lý 223 cơ sở, phạt tiền 148 cơ sở với tổng số tiền phạt 254,55 triệu đồng, đề nghị tiêu huỷ sản phẩm của 224 cơ sở với 1.276 kg thực phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn. 9 tháng đầu năm đã ghi nhận 1 vụ ngộ độc thực phẩm tại huyện Kiên Lương với 44 cas mắc, không có tử vong, Ngoài ra, có 112 cas mắc lẻ (chủ yếu do tác dụng của cồn).

7.8. Tình hình an toàn giao thông: Tính từ ngày 16/08/2016 đến 15/09/2016. Toàn tỉnh xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, làm 9 người chết, 12 người bị thương. Trong đó số vụ TNGT nghiêm trọng là 10 vụ, làm 9 người chết và 6 người bị thương. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông giảm 9 vụ, giảm 1 người chết và giảm 8 người bị thương. Trong đó số vụ TNGT nghiêm trọng giảm 5 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương giảm 4 người.

Luỹ kế 9 tháng đầu năm (từ 16/12/2015 đến 15/09/2016) trên toàn tỉnh xảy ra 189 vụ tai nạn giao thông, làm 106 người chết, 146 người bị thương. Trong đó số vụ TNGT nghiêm trọng là 147 vụ, 106 người chết và 95 người bị thương. So với cùng thời điểm năm trước, giảm 31 vụ TNGT, tăng 2 người chết và giảm 66 người bị thương. Trong đó số vụ TNGT nghiêm trọng giảm 21 vụ, tăng 2 người chết và giảm 2 người bị thương.

Tình hình tai nạn giao thông trong tháng 9 có giảm so với tháng trước cả về số vụ và số người chết, bị thương. Tuy nhiên, tính chung từ đầu năm đến nay, do số vụ tai nạn nghiêm trọng vẫn tăng hơn so năm trước, dẫn đến số người chết tăng lên, do vậy các ngành chức năng cần thường xuyên tăng cường kiểm tra, giáo dục, tuyên truyền cho người dân hiểu rỏ hơn về Luật giao thông để tất cả mọi người có ý thức, có văn hoá khi tham gia giao thông.

7.9.  Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 16/08/2016 đến 15/09/2016 toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy (Phú Quốc 1 vụ, U Minh Thượng 1 vụ, Châu Thành 1 vụ, Hòn Đất 1 vụ), nguyên nhân cháy chủ yếu là do chập điện, bất cẩn khi sử dụng lửa sinh hoạt. Thiệt hại do cháy gây ra ước tính 149,5 triệu đồng, không có thiệt hại về người. Không có vụ nổ nào xảy ra.

Lũy kế 9 tháng năm 2016, trên địa bàn tỉnh xảy ra 44 vụ cháy, 01 vụ nổ. Thiệt hại lũy kế ước tính 24 tỷ 273 triệu đồng. Số người bị thương do cháy, nổ là 05 người. Năm nay,  mùa khô hạn kéo dài, phức tạp, công tác phòng cháy, chữa cháy được các ngành, các cấp trong tỉnh tích cực tuyên truyền và hướng dẫn trong nhân dân, tuy nhiên điều quan trọng là ở từng người dân, cần cẩn thận, không chủ quan, lơ là với vật dụng dễ gây cháy nổ, gây tác hại nguy hiểm về tài sản và sinh mạng con người.

8. Đề xuất kiến nghị:

Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2016, nhìn chung có nhiều chỉ tiêu đạt khá so với kế hoạch đề ra, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cần phải tập trung chỉ đạo để thực hiện tốt các chỉ tiêu mà  Nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra đầu năm, Cục Thống kê kiến nghị một số vấn đề như sau:

1. Trong lĩnh vực nông nghiệp, cần tập trung chỉ đạo các địa phương hướng dẫn bà con nông dân bảo vệ, thu hoạch lúa vụ hè thu và chăm sóc, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên lúa thu đông nhằm đảm bảo đạt năng suất, sản lượng cao hơn kế hoạch đề ra để bù đắp những thiếu hụt do thiên tai xảy ra đầu năm.

2. Về lĩnh vực thủy sản vẫn còn nhiều khó khăn do thời tiết, dịch bệnh, về giá cả đầu ra thiếu ổn định nhất là thời điểm thu hoạch rộ, vì vậy cần có sự liên kết sản xuất, giữa người dân với nhà Khoa học và Nhà nước trong chỉ đạo điều hành sản xuất và ổn định giá cả; Thực hiện tốt Nghị định 67 của Chính phủ về chính sách phát triển thủy sản, cụ thể cần có chính sách hỗ trợ vốn để cải hoán, nâng cấp phương tiện nhỏ phát triển đánh bắt xa bờ đạt hiệu quả, xây dựng cụ thể kế hoạch đầu tư xử lý hệ thống kênh mương thủy lợi dẫn nước và thoát nước thải, vận động doanh nghiệp và hộ nuôi trồng tranh thủ thời tiết thuận lợi để thả nuôi thêm diện tích tôm thẻ chân trắng nhằm tăng sản lượng cho những tháng cuối năm.

3. Tình hình xuất khẩu còn đạt thấp, cần phải tăng cường công tác xúc tiến thương mại, công tác thông tin thị trường; nỗ lực tập trung thực hiện nâng cao chất lượng hàng hóa, ổn định nguồn hàng; từng bước xây dựng thương hiệu các mặt hàng xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu các thị trường khó tính; kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc phát sinh về vốn, tín dụng, để có biện pháp xử lý tháo gỡ, tạo điều kiện hỗ trợ hoạt động kinh doanh xuất khẩu cho doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải chủ động tìm kiếm thị trường để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nhất là Gạo và thuỷ sản chế biến.

4. Đối với các khu công nghiệp cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư nhằm đầu tư phát triển các ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh, vừa đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước để tránh nhập khẩu, vừa đáp ứng xuất khẩu, đồng thời tăng thu nhập cho người lao động. Duy trì và phát triển thế mạnh của một số ngành công nghiệp chế biến. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

5. Để có thể thu hút nhiều khách du lịch đặc biệt là khách du lịch quốc tế, ngành du lịch kết hợp với các ngành, các cấp thực hiện tốt công tác tổ chức Năm Du lịch quốc gia 2016 – Phú Quốc – Đồng bằng sông Cửu Long, đảm báo đúng yêu cầu và theo đúng tiến độ, kế hoạch đề ra; đẩy mạnh công tác thông tin quảng bá du lịch, tăng cường hỗ trợ các công ty, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch tổ chức được nhiều chương trình, sự kiện với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, hấp dẫn du khách trong và ngoài tỉnh; chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác du lịch để nâng cao tính chuyên nghiệp trong thực hành nhiệm vụ.

6. Công tác đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề cần phải đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và phải chú trọng đến chất lượng, hiệu quả để đáp ứng đủ nhu cầu cung cấp cho các doanh nghiệp, nhà máy ở các khu công nghiệp đang và chuẩn bị đi vào hoạt động. tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo kế hoạch đề ra.

Tải về:  - Số liệu KTXH tháng 9 và 9 tháng năm 2016

              - Chỉ số Giá tháng 9 năm 2016


[1] Quyết định số 2052/QĐ-UBND ngày 09/9/2016 của UBND tỉnh về việc điều chỉnh dự toán thu, chi ngân sách nhà nước tỉnh Kiên GIang năm 2016.

[2] Kết quả điều tra hộ nghèo được UBND tỉnh phê duyệt tại QĐ số 617/QĐ-UBND tỉnh Kiên Giang ngày 17/3/2016. Phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo giai đoạn 2016- 2020 trên địa bàn tỉnh.

 

 

Số lần đọc: 2096
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan