02.10.2013

Kinh tế-xã hội chín tháng đầu năm của tỉnh cũng như cả nước đang còn nhiều khó khăn, thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, sức mua thấp, lượng hàng tồn kho khá cao, cầu nội địa yếu, phần lớn doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, số doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể vẫn còn nhiều, việc làm của người lao động bấp bênh, nợ xấu tăng,… làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Để tháo gỡ khó khăn, ổn định nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, các ngành, các cấp địa phương trong tỉnh đã và đang nỗ lực thực hiện đồng bộ các giải pháp, phấn đấu vượt qua những khó khăn thách thức để từng bước đưa nền kinh lấy lại đà tăng trưởng. Kết quả 9 tháng năm 2013 kinh tế vẫn tăng tưởng khá cao so với mức tăng chung của cả nước, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của mấy năm trước; an ninh chính trị được giữ vững, an sinh xã hội được đảm bảo.

A. VỀ KINH TẾ

1. Tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) 9 tháng năm 2013 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt trên 48.271,2 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực I : Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,39%, đóng góp cho tăng trưởng chung 2,48%; khu vực II: Công nghiệp và xây dựng tăng 11,62%, đóng góp cho tăng trưởng chung 2,49%; khu vực III : Dịch vụ tăng 13,28%, đóng góp cho tăng trưởng chung 4,33%.

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP)

 

GDP 9 tháng đầu năm

2013 (tỷ đồng)

Tốc độ tăng  (%)

Giá thực tế

Giá SS 2010

9 tháng

Năm 2012

 

9 tháng

Năm 2013

 

 

Tổng số

1. Nông, lâm, thủy sản

    - Nông, lâm nghiệp

    - Thủy sản

2. Công nghiệp, xây dựng

3. Dịch vụ

   

 

63.193,303  

27.811,077

18.166,007

9.645,070

13.471274

21.910,952

 

    48.271,265

    21.413,565

     14.689,684

      6.723,881

     10.545,889

     16.311,811

 

11,06

7,60

11,29

1,04

11,46

16,91

 

9,30

5,39

4,80

6,71

11,62

13,28

Mức tăng trưởng 9 tháng năm nay đạt 9,3%, có thấp hơn cùng kỳ các năm trước (9 tháng đầu năm 2010: tăng 10,83%; năm 2011: tăng 11,09%; năm 2012: tăng 11,06%), và so với mục tiêu tăng trưởng của tỉnh đề ra năm nay 12,5%  vẫn chưa đạt. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế hiện còn gặp khó khăn, thì mức tăng trưởng đạt 9,3%  khá sát với tình hình thực tế. Một số tỉnh cùng khu vực ĐBSCL mức tăng trưởng kinh tế 9 tháng đạt như sau: An Giang tăng 6,35%, Cà Mau tăng 8,1%; Long An đạt mức 9,9 %; Tiền Giang 9,3%; Trà Vinh 8,03%.

9 tháng đầu năm nay, sản xuất nông nghiệp ở các vụ đông xuân và hè thu năng suất đều giảm từ 0,6-1,5 tạ/ha làm cho sản lượng lúa 9 tháng 2013 chỉ tăng 63,4 ngàn tấn so cùng kỳ năm 2012, trong khi 9 tháng năm 2012 tăng đến 248 ngàn tấn so cùng kỳ 2011; giá lúa giảm nhưng chi phí sản xuất thì không giảm; lượng gạo xuất khẩu tính đến nay giảm trên 11 ngàn tấn so cùng kỳ, trong khi lượng gạo xuất 9 tháng năm 2012 tăng 36,5 ngàn tấn; giá trị xuất khẩu gạo bình quân giảm gần 20 USD/tấn so cùng kỳ; giá sản phẩm chăn nuôi thấp so chi phí đầu vào, dịch bệnh trên đàn gia cầm xảy ra liên tục vào đầu năm làm tổng đàn gia súc, gia cầm giảm (trâu giảm trên 800 con, gia cầm giảm trên 300 ngàn con); sản xuất công nghiệp chi phí đầu vào không giảm, sản phẩm tiêu thụ kém; ngành thương mại dịch vụ tăng trưởng thấp hơn cùng kỳ năm 2012.

Giá trị tăng thêm từng khu vực kinh tế qua các quí như sau :

Khu vực I :  Nông, lâm, thủy sản

Quý I/2013: Giá trị tăng thêm đạt 3.444,2 tỷ đồng, tăng 3,93% so quý I/2012 Trong đó : Nông lâm nghiệp 1.678,7 tỷ đồng, tăng 3,16%, thủy sản tăng 4,8% (khai thác tăng 10,76%, nuôi trồng giảm 3,59%). Quý I, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng thấp do sản xuất lúa mùa bị thiệt hại nhiều, sản lượng tăng thấp ; tôm nuôi thu hoạch muộn hơn năm trước và giá trị thủy sản nuôi trồng giảm 8,96% đã ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng chung của cả khu vực.

 Quý II: Giá trị tăng thêm đạt 9.694,9 tỷ đồng, tăng 5,59%        so cùng kỳ năm 2012. Trong đó: Nông lâm nghiệp 7.275,9 tỷ đồng, tăng 5,41%, thủy sản tăng 6,15% (khai thác tăng 6,41%, nuôi trồng tăng 5,79%).

Quý III : Giá trị tăng thêm đạt 8.274,4 tỷ đồng, tăng 5,82%. Trong đó : Nông lâm nghiệp 5.698,4 tỷ đồng, tăng 4,52%, thủy sản tăng 8,82% (khai thác tăng 4,04%, nuôi trồng tăng 15,63%). Quý III sản lượng nuôi trồng tăng khá hơn nhưng khai thác hải sản lại gặp mưa bão nhiều nên sản lượng tăng thấp hơn cùng kỳ năm trước.

Khu vực II :  Công nghiệp- Xây dựng

Quý I/2013: Đạt 3.181 tỷ đồng, tăng 11,88% so quý 1/ 2012, trong đó: Công nghiệp 2.339,9  tỷ đồng, tăng 9,92% (tăng 211 tỷ đồng). Quý I năm nay lượng gạo xay xát tăng 46,8 ngàn tấn so quý I/2012; xi măng giảm 120 ngàn tấn; tôm đông, cá đông tăng 340 tấn; nước  đá tăng 27,7 ngàn tấn…

Quý II/2013: Đạt 3.561,4 tỷ đồng, tăng 11,64% so quý II/ 2012, trong đó: Công nghiệp 2.687  tỷ đồng, tăng 9,83% (tăng 240,4 tỷ đồng). Quý II năm nay sản xuất xi măng tăng 78 ngàn tấn so quý II/2012; tôm đông, cá đông tăng 584 tấn; nước  đá tăng 14 ngàn tấn.

Quý III/2013: Đạt 3.803,1 tỷ đồng, tăng 11,39% so quý III/ 2012, trong đó: Công nghiệp 2.748  tỷ đồng, tăng 9,77% (tăng 244,6 tỷ đồng). Quý III sản xuất xi măng tăng 23,7 ngàn tấn so quý III/2012; tôm đông, cá đông tăng 729 tấn ; nước  đá tăng 27,7 ngàn tấn; gạo xay xát tăng 41,5 ngàn tấn…

Khu vực III : Dịch vụ

Quý I/2013: Đạt 5.318,3 tỷ đồng, tăng 13,27% so quý I/2012, trong quý này ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa xe ô tô, mô tô chiếm tỷ trọng gần 30%, tăng 14,2%, kế đến ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng 18,28%, tăng 12,02% ;  ngành vận tải, kho bãi, chiếm tỷ trọng 12,7%,  tăng 14% ; ngành dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 11,5%, tăng 17,39% so quý 1/2012 ;…

Quý II/2013: Đạt 5.440,6 tỷ đồng, tăng 13,20% so quý II/2012. Trong quý II ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa xe ô tô, mô tô tăng 14,3%; ngành kinh doanh bất động sản tăng 9,9% ;  ngành vận tải, kho bãi, tăng 14,01% ; ngành dịch vụ ăn uống tăng 17,38% so quý I1/2012 ;…

Quý III/2013: Đạt 5.552,7 tỷ đồng, tăng 13,37% so quý III/2012. Trong quý III ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa xe ô tô, mô tô tăng 14,3% ; ngành kinh doanh bất động sản tăng 11,2% ; ngành vận tải, kho bãi tăng 14,2%; ngành dịch vụ ăn uống tăng 16,2% so quý III/2012;…

     2. Tài chính, ngân hàng:

2.1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước: Ước tính 9 tháng năm 2013 được 3.556,7 tỷ đồng, đạt 75,26% dự toán HĐND tỉnh giao và tăng 18,87% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, một số khoản thu đạt dự toán khá như thu phí, lệ phí 40,5 tỷ đồng, đạt 92,21%; thuế XN khẩu, TTĐB, VAT hàng nhập khẩu gần 48 tỷ đồng, đạt 78,66%; thuế bảo vệ môi trường 123,8 tỷ đồng, đạt 77,39%; thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài 145,3 tỷ đồng, đạt 74,53%; thu phí trước bạ 87 tỷ đồng, đạt 71,98%; thu thuế công thương nghiệp 862,1 tỷ đồng, đạt 71,25% dự toán năm. Bên cạnh đó còn một số khoản thu đạt dự toán thấp như thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 19,2 tỷ đồng, bằng 53,52% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 234,4 tỷ đồng, bằng 56,49%; thu tiền sử dụng đất 528,3 tỷ đồng, bằng 67,3%; thu từ doanh nghiệp Nhà nước địa phương gần 128,2 tỷ đồng, bằng 67,47%.

Tổng chi ngân sách địa phương: Chín tháng ước tính chi 5.925,7 tỷ đồng, bằng 71,31% dự toán năm và tăng 8,63% so với 9 tháng năm 2012. Trong đó, chi thường xuyên 3.767 tỷ đồng, bằng 80,9% dự toán năm và tăng 3,55% so với cùng kỳ; chi đầu tư phát triển 1.054,3 tỷ đồng, bằng 52,71% dự toán và giảm 6,31 % so cùng kỳ năm 2012.

2.2. Hoạt động Ngân hàng

Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ và Chỉ thị 01/CT-NHNNVN của NHNNVN tập trung cho vay sản xuất, kinh doanh và kiểm soát nợ xấu. Nguồn vốn hoạt động ngân hàng tăng 7,78% so đầu năm; dư nợ cho vay tăng 9% so với đầu năm; Tỷ lệ nợ xấu nhóm 3,4,5 chiếm 2,25%/tổng dư nợ, tăng 0,56% so đầu năm, nợ xấu đang có dấu hiệu tăng lên.

 Ước tính đến 31/9/2013 tổng nguồn vốn hoạt động ngân hàng trên địa bàn đạt 37.810 tỷ đồng, tăng 7,78% so đầu năm, tăng 13,9% so cùng kỳ năm 2012. Trong đó: vốn huy động tại địa phương ước đạt 19.270 tỷ đồng, tăng 4,87% so đầu năm, chiếm 51% tổng nguồn vốn hoạt động.Vốn huy động tại địa phương tăng chủ yếu là tiền gửi thanh toán (tăng 40,18% so đầu năm, số dư 4.300 tỷ đồng); tiền gửi tiết kiệm có dấu hiệu tăng trở lại ( tăng 2,31% so quí trước) và tăng 0,28% so đầu năm, số dư 14.370 tỷ đồng; tiền gửi từ phát hành giấy tờ có giá giảm 38,59% so đầu năm, số dư 600 tỷ đồng.

Doanh số cho vay trong quí III/2013 ước đạt 19.607 tỷ đồng, bằng 95,44% so quí trước trước. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2013 ước đạt 56.081 tỷ đồng, tăng 49,76% so cùng kỳ.

Dư nợ cho vay đạt 29.214 tỷ đồng, tăng 14,76% so cùng kỳ và tăng 9% so đầu năm, trong đó: Khu vực I chiếm 31,56%, số dư 9.219 tỷ đồng; khu vực II chiếm 26,14%, số dư 7.637 tỷ đồng;  khu vực III chiếm 43,3%, số dư 12.358 tỷ đồng. Trong tổng số doanh số và dư nợ cho vay, cho vay sản xuất kinh doanh chiếm trên 88%. Dư nợ xấu ước 658 tỷ đồng, chiếm 2,25%/tổng dư nợ, tăng 0,03% so quí trước và tăng 0,56% so đầu năm.

Tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng ước đạt 110.208 tỷ đồng, đạt 62,62% KH năm, tăng 5,44% so với cùng kỳ. Tổng chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng đạt 110.016 tỷ đồng, đạt 64,72% KH, tăng 10,57% so với cùng kỳ; bội thu tiền mặt 192 tỷ đồng.

3. Đầu tư - xây dựng

Từ chính sách thắt chặt đầu tư công để kiềm chế lạm phát của Chính phủ nên vốn đầu tư, xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước hiện nay nhiều công trình, dự án đang thiếu vốn. Tỉnh chỉ tập trung vốn cho các công trình, dự án trọng điểm, thiết thực cho sự phát triển kinh tế, xã hội như: Sửa chữa nâng cấp cầu, đường giao thông trên địa bàn TP Rạch Giá, đảo Phú Quốc; một số đường liên xã, giao thông nông thôn; dự án cống Sông Kiên ngăn mặn; cảng cá An Thới, cảng cá Tắc Cậu, khu công nghiệp Thạnh Lộc...

Vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 9 tháng năm 2013 ước tính được 2.999,9 tỷ đồng, so dự toán đạt 70,16% và tăng 17,06% so cùng kỳ năm 2012. Trong đó, vốn cân đối ngân sách địa phương ước tính 912,9 tỷ đồng, so dự toán đạt 71,39%, so cùng kỳ tăng 7,25%; Vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương được 585 tỷ đồng, đạt 79,95% dự toán và tăng 9,51% so cùng kỳ; vốn trái phiếu chính phủ 904,8 tỷ đồng, đạt 83,83% dự toán, tăng 57,23%; vốn ODA  52,2 tỷ đồng,so dự toán đạt 80,29% và giảm 29,75% so cùng kỳ.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chín tháng năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 38.220,4 tỷ đồng, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 24.124,7 tỷ đồng, tăng 4,93%; lâm nghiệp đạt 145,7 tỷ đồng, giảm 11,52%; thuỷ sản đạt 13.949,9 tỷ đồng, tăng 6,71%.

4.1. Nông nghiệp: Tính đến nay tổng diện tích gieo sạ lúa ở các vụ (không tính vụ Thu Đông)  ước tính đạt 675.836 ha, so cùng kỳ tăng 3,24% (tăng 21.179 ha); Sản lượng ước tính đạt 3.980.925 tấn, đạt 90,41% kế hoạch năm

Vụ Hè Thu Diện tích gieo sạ được 294.432 ha, diện tích thu hoạch 294.238 ha (194 ha ở An Biên bị thiệt hại do thời tiết không thể gieo sạ lại), so kế hoạch tăng 2.238 ha và so với vụ hè thu năm trước tăng 4.453 ha. Diện tích đã thu hoạch đến thời điểm này ước đạt 70% diện tích, các huyện thu hoạch dứt điểm như Giồng Riềng 44.027 ha, huyện Tân Hiệp 36.655 ha … các huyện còn lại sẽ kết thúc thu hoạch vào cuối tháng 9 đến đầu tháng 10. Năng suất trong trà lúa này ước đạt từ 4,80 đến 5,23 tấn/ ha, giảm so với năm trước từ 0,7- 1,4 tạ/ ha. Nguyên nhân chính là do lúa gần đến thời kỳ thu hoạch gặp mưa nhiều, giông lớn gây gãy đổ.

Diện tích bị nhiễm sâu bệnh vụ Hè Thu 13.271 ha giảm 8.300 ha so vụ này năm trước,  gồm các bệnh cháy lá, sâu cuốn lá, rầy nâu, chuột, nhện gié, ốc bươu vàng, sâu đục bẹ.., nhưng chủ yếu là bệnh cháy lá chiếm gần 5.000 ha.

Vụ Thu Đông: Diện tích gieo sạ lúa Thu đông ước tính được 89.900 ha, tăng so với kế hoạch 9.900 ha, và so cùng kỳ năm trước tăng 20.416 ha. Trong đó có 3 huyện diện tích gieo sạ nhiều là Giồng riềng 34.171 ha, Tân hiệp 29.952 ha và Châu thành 10.850 ha.

Sau đợt thu mua tạm trữ lúa gạo vụ hè thu của Chính phủ kết thúc, giá lúa giảm trở lại. Hiện nay giá lúa tươi bán tại ruộng giống IR 50404 từ 4.100đ đến 4.150đ/kg (giảm 200đ/kg so tháng trước; giống IR2517 có giá bán 4.550đ-4.600đ/kg (giảm 100đ-150đ/kg so tháng trước) so với cùng thời điểm này năm trước thì giá giảm từ 450đ-700đ/kg.

Cây rau màu: Cây rau màu những tháng đầu năm được nông dân quan tâm gieo trồng để thêm thu nhập, đa số diện tích đều tăng hơn cùng kỳ và sẽ vượt kế hoạch năm.Tính đến nay, gieo trồng được: 58 ha bắp, bằng 96,67% KH và tăng 20,83% so cùng kỳ năm trước; Khoai lang 1.230ha, vượt 17,14% KH và tăng 29,47%; Khoai mì 552 ha, bằng 92% KH và tăng 8,66%; Dưa hấu 1.135 ha, bằng 94,58% KH và tăng 21,52%; Rau đậu các loại 6.538 ha, tăng 21,07% KH và tăng 61,07% so cùng kỳ.

Chăn nuôi:

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát sinh 3 ổ dịch cúm gia cầm H5N1, một ổ dịch gia cầm tại ấp Sư Nam huyện Hòn Đất vào 1/3/2013 đã thiêu hủy 559 con gà;  một ổ dịch xảy ra ngày 9/4/2013 tại ấp Cây Huệ, xã Hòa An, huyện Giồng Riềng, phát hiện trong đàn có 30 con bị nhiễm bệnh, tiêu hủy 1.300 con vịt và một ổ dịch tại Trại giống nông, lâm, ngư nghiệp huyện Hòn Đất vào ngày 3/7/2013, ngành chức năng cùng chính quyền địa phương đã tiến hành tiêu hủy 4.720 con gà của trại.

Chăn nuôi vẫn đang đứng trước rất nhiều khó khăn, tuy giá sản phẩm chăn nuôi đã tăng, giá bán sản phẩm đã cao hơn giá thành sản xuất, người chăn nuôi đã có lợi nhưng nông dân vẫn chưa yên tâm để đầu tư mở rộng chăn nuôi vì giá cả vẫn còn bấp bênh chưa đảm bảo sự ổn định.

4.2. Lâm nghiệp: 9 tháng đầu năm nay tỉnh chưa thực hiện trồng rừng tập trung mà chỉ trồng cây phân tán, chăm sóc, bảo vệ rừng. Từ đầu năm đến nay ước tính diện tích rừng được chăm sóc 4.703 ha tương đương cùng kỳ năm trước; diện tích giao khoán bảo vệ được 7.668 ha, tăng 3.318 ha so cùng kỳ, đạt 55,36% kế hoạch; số cây lâm nghiệp trồng phân tán được 35 ngàn cây, còn thấp so với kế hoạch trồng 700 ngàn cây, nhưng vẫn tăng 5 ngàn cây so cùng kỳ năm 2012; tổng số gỗ khai thác trên rừng trồng được 36,5 ngàn m3, mức xấp xỉ cùng kỳ và được 53,7 ngàn ste củi khai thác trong dân. Những năm gần đây do trồng rừng hiệu quả thấp, nông dân đã chuyển phần lớn diện tích trồng tràm, bạch đàn sang trồng lúa nên diện tích trồng rừng trong dân thu hẹp.

Ngành Kiểm lâm thực hiện tốt việc triển khai biện pháp phòng chống cháy rừng trong mùa khô, nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào đáng kể, tuy nhiên vẫn còn 28 vụ chặt phá rừng, tăng 7 vụ so cùng kỳ và không tính được số ha thiệt hại do những vụ chặt phá xảy ra rải rác.

4.3. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh năm 2010): 9 tháng năm 2013 ước tính đạt 13.949,9 tỷ đồng, tăng 6,71% (tăng 877,1 tỷ đồng) so cùng kỳ năm trước, nhưng chỉ đạt 60,39% mức tăng kế hoạch. Bao gồm giá trị khai thác 8.511,4 tỷ đồng, tăng 6,89% (tăng 548,3 tỷ đồng) và giá trị nuôi trồng 5.438,5 tỷ đồng, tăng 6,44% (tăng 328,8 tỷ đồng).

Trong 3 quý, giá trị nuôi trồng quý III đạt cao nhất 2.341 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 316,5 tỷ đồng, nguyên nhân chủ yếu lượng tôm nuôi quý III  đạt 12.880 tấn tăng cao hơn hai quý trước (quý I đạt 4.028 tấn; quý II: 11.955 tấn) và tăng 1.218 tấn so quý III cùng kỳ, riêng tôm sú đạt 10.177 tấn (quý I đạt 2.111 tấn; quý II: 8.735 tấn), tăng 1.635 tấn so quý III cùng kỳ. Tuy nhiên giá trị khai thác quý III lại giảm 65 tỷ đồng so quý III cùng kỳ do sản lượng cá các loại đánh bắt giảm 3.512 tấn.

Tổng sản lượng thủy sản (khai thác và nuôi trồng) tính chung 9 tháng ước tính được 430,3 ngàn tấn, đạt 73,09% kế hoạch năm và tăng 6,55% (tăng  26,4 ngàn tấn) so cùng kỳ năm trước. Trong đó cá các loại 257 ngàn tấn, tăng 6,88% (tăng 16,5 ngàn tấn); tôm các loại 59,1 ngàn tấn, tăng 3,62% (tăng 2,1 ngàn tấn); mực 42,7 ngàn tấn, tăng 6,51% (tăng 2,6 ngàn tấn) so cùng kỳ...

Sản lượng thủy sản khai thác: 9 tháng ước tính đạt 325,7 ngàn tấn, bằng 74,79% kế hoạch năm và tăng 3,98% (tăng 12,4 ngàn tấn) so cùng kỳ. Bao gồm: cá các loại gần 216,4 ngàn tấn, tăng 5,6% (tăng 11,4 ngàn tấn); tôm đạt 30,3 ngàn tấn, tăng 7,71% (tăng 2,1 ngàn tấn); mực đạt 42,7 ngàn tấn, tăng 6,51% (tăng 2,6 ngàn tấn) và thủy sản khác 36,2 ngàn tấn giảm 3,7 ngàn tấn.

Sản lượng khai thác thủy sản trong các quý đạt được như sau: quý I sản lượng đạt 99,6 ngàn tấn (tăng 10 tấn so quý cùng kỳ); quý II đạt 113,1 ngàn tấn (tăng 2.670 tấn); quý III đạt 113 ngàn tấn (giảm 321 tấn)

Sản lượng thủy sản nuôi trồng: 9 tháng ước tính được 104,6 ngàn tấn, (gồm: quý I đạt 27,7 ngàn tấn, giảm 2,7 ngàn tấn so quý cùng kỳ, quý II đạt 32,9 ngàn tấn, tăng 3,7 ngàn tấn, quý III đạt 44 ngàn tấn,tăng 12,9 ngàn tấn); bằng 68,24% kế hoạch năm và tăng 15,4% (tăng 13,9 ngàn tấn) so cùng kỳ năm 2012. Trong đó: cá 40,6 ngàn tấn, tăng 14,27% (tăng gần 5,1 ngàn tấn) so cùng kỳ; tôm đạt 28,8 ngàn tấn, bằng 99,64% cùng kỳ (gồm tôm sú 21 ngàn tấn, tăng 6,02% (tăng gần 1,2 ngàn tấn) và tôm thẻ 7,8 ngàn tấn, giảm 14,2% (giảm 105 tấn)  và thủy sản khác (chủ yếu sò, hến, cua) đạt 35,1 ngàn tấn, tăng 34,43% (tăng gần 9 ngàn tấn).

Diện tích nuôi thả tôm đến thời điểm này ước đạt 87.700 ha, đạt 100,09 % kế hoạch và bằng 100.93% so với cùng kỳ; hiện tôm  nuôi đang phát triển bình thường chờ thu hoạch vào cuối tháng này đến trung tuần tháng sau.

Tình hình khai thác 9 tháng gặp khó khăn, chi phí cho mỗi chuyến ra khơi tăng do giá xăng, dầu tăng, giá sản phẩm không ổn định, nguồn hải sản bị cạn dần, một số phương tiện chỉ khai thác cầm chừng vì thua lỗ, do đó sản lượng đạt còn thấp so năng lực tàu thuyền khai thác biển của tỉnh. Trong nuôi trồng 9 tháng qua sản lượng tăng cao từ sản lượng sò, hến, sản lượng tôm nuôi có giá trị lại tăng chưa cao, vì từ đầu vụ thời tiết đã bất lợi, dịch bệnh lây lan trên diện rộng, chất lượng con giống không đảm bảo...làm ảnh hưởng đến sản lượng. Ngoài ra, tôm nuôi công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên cũng gặp không ít khó khăn, nguồn nước mặn không đủ cung cấp, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng tốt cho nuôi trồng, nên các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư nuôi, vì vậy  sản lượng tôm nuôi trong năm nay khó đạt được mục tiêu đề ra.

5. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp của tỉnh 9 tháng đầu năm cũng còn nhiều khó khăn do mức tiêu thụ chậm, giá cả và nguồn nguyên liệu thiếu ổn định … Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 toàn ngành tăng 7,51% so tháng trước và tăng 14,79% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng chỉ số chung sản xuất công nghiệp tăng 7,83%. Trong đó, chỉ số tăng cao nhất so với cùng kỳ là ngành khai khoáng tăng 31,3%; kế đến là ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 6,81%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,42% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải với mức tăng 6,28%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) tháng 9 ước thực hiện được 2.422,7 tỷ đồng, tăng 5,03% so tháng trước và tăng 14,93% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng ước thực hiện 20.012,3 tỷ đồng, tăng 9,96% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 19.005,5 tỷ đồng, tăng 10,24%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 644,2 tỷ đồng, tăng 1,13%; ngành khai khoáng 275,8 tỷ đồng, tăng 10,43% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải đạt 86,4 tỷ đồng, tăng 18,91% so cùng kỳ năm 2012.

Một số sản phẩm công nghiệp sản xuất trong 9 tháng đạt mức khá so kế hoạch và tăng so cùng kỳ năm 2012 như: Xi măng địa phương 535,5 ngàn tấn, đạt 81,14% KH, tăng 17,2% so cùng kỳ; cá đông 2.588 tấn, đạt 86,27%KH, tăng 57,42% so cùng kỳ; Clinker gần 1,6 triệu tấn, đạt 84,94% KH, tăng 60,08% cùng kỳ; điện tự phát 46,7 ngàn Kwh, đạt 80,55%, tăng 10,14%.

Các sản phẩm có mức sản xuất đạt thấp so kế hoạch và so cùng kỳ như : xi măng VĐT nước ngoài gần 1,4 triệu tấn, bằng 67,88% KH, giảm 6,62%; Mực đông 7,9 ngàn tấn, bằng 54,53% KH giảm 9,75% so cùng kỳ; bột cá 31,6 ngàn tấn, bằng 50,97% KH; đường các loại 4,95 ngàn tấn, bằng 52,11% KH, giảm 7,47% so cùng kỳ.

6. Thương mại, dịch vụ và giá cả

6.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng:

Tình hình bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 9 năm 2013, mức bán lẻ các nhóm hàng đều tăng nhẹ; bước vào năm học mới kết hợp dịp Tết trung thu nên giá có xu hướng tăng ở nhóm thực phẩm, vật phẩm văn hóa giáo dục. Ngành thương nghiệp vẫn tăng nhưng không nhiều mặc dù các trung tâm mua sắm, siêu thị, cửa hàng tiếp tục đưa ra những chương trình khuyến mãi. Ngành lưu trú, ăn uống kinh doanh hoạt động ổn định, doanh thu tăng cao chủ yếu từ tăng giá của nhóm hàngtrong ngành này. Doanh thu các loại hình dịch vụ đều tăng. Nhìn chung 9 tháng qua, thị trường bán lẻ duy trì ổn định, lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Sức mua khả năng tăng nhiều vào dịp tố chức Hội chợ Thương mại - Du lịch và Lễ hội kỷ niệm 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực vào cuối tháng 9.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước tính 3.762,8 tỷ đồng, tăng 1,92% so tháng trước, tăng 12,5% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng được 34.677 tỷ đồng, bằng 70,76% kế hoạch năm và tăng 16,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, phân theo thành phần kinh tế thì kinh tế ngoài Nhà nước đạt cao nhất gần 33.698 tỷ đồng, chiếm 97,17% trong tổng mức và tăng 17,53% so với cùng kỳ; kinh tế Nhà nước đạt gần 976,1 tỷ đồng, chiếm 2,82% tổng mức và giảm 8,6% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế thì kinh doanh thương nghiệp đạt 29.024 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng cao 83,7% trong tổng mức và tăng 13,79%; khách sạn, nhà hàng đạt 4.357,59 tỷ đồng, chiếm 12,57% và tăng 27,92%; dịch vụ, du lịch lữ hành đạt 1.295,41 tỷ đồng, chiếm 3,73% và tăng 55,9% so cùng kỳ.

 Trong tháng 8 tiếp tục xử lý 7 vụ việc vi phạm trong kinh doanh từ tháng trước, thu phạt nộp Ngân sách 109,76 triệu đồng. Lũy kế 8 tháng, đã kiểm tra 1.094 vụ, phát hiện 332 vụ vi phạm, gồm 94 vụ vi phạm hàng cấm, hàng nhập lậu; 38 vụ gian lận thương mại; 30 vụ hàng giả, hàng kém chất lượng; 11 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm và 159 vụ vi phạm khác trong kinh doanh. Đã xử lý và thu nộp ngân sách Nhà nước 4,2 tỷ đồng.

6.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 9 ước đạt gần 58 triệu USD, tăng 46,92% so với tháng trước và giảm 13,57% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó: hàng nông sản 41 triệu USD, tăng 81,73% so tháng trước; hàng thủy sản 15,7 triệu USD, tăng 0,76% so tháng trước.

Tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2013 ước tính gần 442,6 triệu USD, bằng 67,06% kế hoạch năm và giảm 2,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: hàng nông sản đạt 318,3 triệu USD, bằng 71,54% kế hoạch năm và giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước; hàng thủy sản đạt 108,2 triệu USD, bằng 58,5% kế hoạch năm, tăng 7,54% cùng kỳ.

Tháng 9 mặt hàng xuất chủ lực là gạo lượng xuất tăng khá cao (tăng 77,46%) và kim ngạch cũng tăng đáng kể  so tháng trước. Với 7 doanh nghiệp xuất khẩu gạo của tỉnh, tháng 9 ước tính xuất 98.291 tấn gạo, tăng hơn tháng trước 77,46%, gồm: Cty thương mại du lịch xuất 12.500 tấn, Cty kinh doanh nông sản xuất 12.600 tấn, Cty Thuận Phát xuất 3.529 tấn, Cty xuất nhập khẩu Kiên Giang xuất 42.525 tấn, Cty Kiên An Phú xuất 5.502 tấn, Cty lâm sản xuất 11.635 tấn, và Cty dịch vụ thương mại xuất 10.000 tấn. Lượng gạo xuất tháng này tuy đạt khá nhưng chỉ bằng 89,55% cùng kỳ năm 2012.

Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 9 tháng năm nay so với kế hoạch và so với cùng kỳ năm trước: Tôm đông xuất 3,1 ngàn tấn, vượt kế hoạch 3,8% và tăng 76,13% ; gạo xuất gần 782,7 ngàn tấn, đạt 78,27% kế hoạch và bằng 98,6% cùng kỳ; cá đông 1,7 ngàn tấn, đạt 70,12% kế hoạch và tăng 92,85%. Riêng mặt hàng mực đông và tuộc đông đạt 7,3 ngàn tấn, bằng 52,15% kế hoạch và giảm 15,65% so cùng kỳ năm trước.

Tình hình xuất khẩu năm nay hết sức khó khăn, kết quả xuất khẩu 9 tháng đạt mức thấp, mới bằng 67,06% kế hoạch năm và cũng chỉ bằng 97,78% cùng năm trước, nếu những tháng cuối năm xuất khẩu khả quan hơn thì tổng kim ngạch xuất khẩu cũng khó đạt kế hoạch 660 triệu USD.

Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 9 năm 2013 ước tính đạt gần 2,2 triệu USD, toàn bộ hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất như thạch cao, giấy kratp, hạt nhựa... Tính chung 9 tháng ước tính giá trị hàng hóa nhập khẩu đạt 24,3 triệu USD, bằng 69,47% kế họach năm và tăng 6,81% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập dùng cho sản xuất trong 9 tháng tăng cao so cùng kỳ năm trước như: giấy kratp 1,7 ngàn tấn, tăng 2,3 lần; hạt nhựa 1,5 ngàn tấn, tăng 40,31%. Riêng mặt hàng thạch cao nhập 48,9 ngàn tấn, giảm 35,92%.

6.3 Vận tải:

            Vận tải hành khách: Trong tháng 9 lượt khách vận chuyển ước tính đạt 4,2 triệu lượt người, giảm 2,75% so tháng trước, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm 2012; luân chuyển 219,2 triệu lượt người.km, giảm 2,25% so tháng trước và tăng 0,44% so với cùng kỳ. Vận tải hành khách 9 tháng ước tính 40 triệu lượt người, đạt 82,72% kế hoạch và tăng 4,08% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 32,1 triệu lượt khách, tăng 3,78%;  đường sông đạt gần 6,7 triệu lượt khách, tăng 4,05%; đường biển gần 1,2 triệu lượt khách, tăng 13,25% so cùng kỳ.

            Vận tải hàng hóa: Trong tháng 9, lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 645 ngàn tấn, giảm 2,71% so tháng trước và tăng 1,9 % so với cùng kỳ năm 2012; Vận tải hàng hóa 9 tháng ước tính 6,1 triệu tấn, đạt 87,6% kế hoạch và tăng 8,74% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải đường bộ đạt 1,8 triệu tấn, tăng 8,9%; đường sông đạt 2,5 triệu tấn, tăng 8,18%; đường biển trên 1,7 triệu tấn, tăng 9,37% so cùng kỳ.

6.4. Bưu chính - Viễn thông

          Hoạt động Bưu chính Viễn thông 9 tháng qua luôn đảm bảo thông tin liên lạc, chuyển phát thông suốt kể cả trong ngày lễ, Tết, kỳ thi tốt nghiệp các cấp năm 2013 trong tỉnh.

          Tình hình hoạt động cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông của doanh nghiệp trên lĩnh vực bưu chính gồm 208 điểm phục vụ (Bưu cục cấp I: 01; Bưu cục cấp II: 13; Bưu cục cấp III: 12 và 02 kios; Đại lý bưu điện: 40; Bưu điện văn hóa xã: 140 điểm – đang hoạt động 119 điểm, 24 điểm có hoạt động internet); bán kính phục vụ: 3,3 km; dân số phục vụ bình quân: 8.277 người/điểm; phát hành báo chí công ích: 1.554.799 tờ; Doanh thu ước đạt 14 tỷ đồng. Về viễn thông: Tổng số thuê bao điện thoại hiện có trên mạng 1.773.520 thuê bao, trong đó: thuê bao cố định hữu tuyến: 83.079; thuê bao cố định vô tuyến: 38.571; thuê bao di động trả trước: 1.610.766; thuê bao di động trả sau: 41.104. Tổng số thuê bao Internet hiện có trên mạng 64.639 thuê bao, trong đó thuê bao IPTV: 21.431. Doanh thu ước đạt: 782,648 tỷ đồng.

6.5. Du lịch

Ước tính tổng lượt khách du lịch trên địa bàn tỉnh trong tháng 9 được 218,8 ngàn lượt khách, giảm 9,75% so tháng trước và tăng 1,02% so cùng kỳ năm trước. Trong đó có 84,5 ngàn lượt khách đến các cơ sở lưu trú du lịch, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khách du lịch theo tour  đạt 9,9 ngàn lượt, tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng ước tính tổng số khách du lịch trên địa bàn có hơn 2,8 triệu lượt người, trong đó, lượt khách đến các cơ sở lưu trú du lịch 842,1 ngàn lượt người, bằng 84,22% kế hoạch, tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách du lịch theo tour  đạt 82,6 ngàn lượt khách, bằng 62,62% kế hoạch năm, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm 2012. 

 6.6. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2013 (tính từ 15/8 - 15/9) tăng khá 0,83% so tháng trước, chủ yếu do điều chỉnh học phí đầu năm, ngoài ra giá thực phẩm, giá gas cũng tăng lên. Trong các nhóm, tăng cao nhất là nhóm giáo dục với 3,79% (do tăng học phí đầu năm ở hệ đào tạo); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,68%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,93%; nhóm hàng hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,89% (trong đó hàng thực phẩm tăng 1,16%, lương thực tăng 0,68%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,4%; nhóm văn hóa, giải trí, du lịch tăng 0,39%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,33%; nhóm đồ uống thuốc lá tăng 0,16%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%. Hai nhóm còn lại có chỉ số giá giảm là nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,17% và nhóm giao thông giảm 0,14%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2013 so với tháng 12 năm 2012 (sau 9 tháng) tăng 3,42% và tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng đầu năm nay tăng 6,56% so với bình quân cùng kỳ năm 2012. Chỉ còn một quý nữa mà chỉ số giá tiêu dùng tăng như trên, nếu giá cả không biến động thì chỉ số CPI cả năm 2013 sẽ ở mức thấp hơn các năm trước.

          Giá vàng trong tháng biến động theo giá vàng thế giới, chỉ số giá vàng tháng 9/2013 tăng 2,8% so với tháng trước, giảm 18,13% so với tháng 12/2012 và giảm 18,14% so với cùng kỳ năm trước. Giá bán ra bình quân 3.519.000đ/chỉ.

       Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9 giảm 0,52% so với tháng trước; tăng 1,33% so với tháng 12/2012; tăng 1,47% so với cùng kỳ năm 2012. Thời điểm 17/9/2013 giá bán tại Ngân hàng Ngoại thương là 21.150 đồng/USD, thị trường tự do bán 21.230 đồng/USD.

7. Một số tình hình xã hội

Giải quyết việc làm và đào tạo nghề: Trong tháng giải quyết việc làm cho 9.061 lượt lao động. Trong đó: lao động trong tỉnh 3.519 lượt; lao động ngoài tỉnh 5.535 lượt; xuất khẩu lao động 07 người. Nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm từ đầu năm tới nay lên 25.587 lượt người, đạt 77,5% kế hoạch (trong đó lao động trong tỉnh: 13.135 lượt, lao động ngoài tỉnh: 12.438 lượt, xuất khẩu lao động 14 người).

Trong quý III, các Trường, trung tâm, cơ sở tổ chức dạy nghề cho 7.889 người, trong đó đẳng nghề: 128 người, Trung cấp nghề: 351 người, sơ cấp nghề: 1.822 người  và dạy nghề dưới 03 tháng: 5.588 người, nâng tổng số từ đầu năm đến nay lên 17.431 người, đạt 58% kế hoạch, trong đó: Cao đẳng nghề: 128 người, Trung cấp nghề: 351 người, Sơ cấp nghề : 5.028 người, Dạy nghề dưới 3 tháng 11.924 người. Tổ chức 05 lớp nâng cao năng lực quản lý nhà nước cho các ngành các cấp, cán bộ xã phường, huyện thị thành phố làm công tác ATVSLĐ.

Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 1.213 người lao động. Cấp mới 05 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh.

Tình hình đời sống dân cư: Trong 9 tháng đầu năm 2013 đời sống các tầng lớp dân cư toàn tỉnh tương đối ổn định, đời sống tương đối khá hơn năm trước. Hàng hóa tiêu dùng đa dạng, giá cả tăng không cao, thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 so đầu năm chỉ tăng 3,42%, mức tăng thấp hơn những năm trước (năm 2012 CPI tháng 9 tăng 4,63%; năm 2011  tăng 15,51%...), giảm bớt chi cho tiêu dùng của các tầng lớp nhân dân.  Đối với khu vực nông thôn, đời sống nông dân trong tỉnh chưa chuyển biến lớn, mặc dù trong sản xuất đều đạt mức tăng hơn năm trước, nhưng chi phí sản xuất nông, lâm, thủy sản theo chiều hướng tăng, giá sản phẩm không tăng, thiếu ổn định gây không ít khó khăn trong đời sống và sản xuất.

Công tác đền ơn đáp nghĩa và bảo trợ xã hội luôn được các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm, trong 9 tháng đầu năm toàn tỉnh đã bàn giao 474 /600 căn nhà tình nghĩa cho đối tượng chính sách với tổng kinh phí 23,7 tỷ đồng; trợ cấp xã hội theo các Nghị định của Chính phủ cho 35.280 đối tượng với tổng kinh phí 43 tỷ đồng; cấp BHYT cho ... đối tượng với tổng kinh phí hơn 9,1 tỷ đồng...

Về giáo dục, đào tạo: Tất cả các đơn vị, trường học đồng loạt khai giảng vào các ngày 3, 4  hoặc ngày 5/9/2013 theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo, phù hợp với tình hình của địa phương. Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức 18 đoàn gồm Lãnh đạo Sở và Lãnh đạo các phòng- ban đến dự lễ khai giảng ở 29 trường từ mầm non đến giáo dục thường xuyên trong tỉnh, riêng đoàn dự khai giảng xã đảo Tiên Hải- thị xã Hà Tiên vào ngày 05/9 có 26 đồng chí tham dự.Về cơ sở vật chất toàn Ngành có 639 đơn vị, trường học (Mầm non 105, tiểu học 300, Phổ thông cơ sở 43, Trung học cơ sở 124, Trung học phổ thông 52, Trung tâm giáo dục thường xuyên 13, TC.KTNV 01, TT.NNTH 01), với 1.804 điểm trường, huy động 11.742 lớp, 325.211 học sinh (MN 37.750, TH 158.801, THCS 92.195, THPT 34.419, GDTX 2.046), trong đó trẻ 5 tuổi 21.487 cháu, trẻ 6 tuổi học lớp 1 là 29.366 em. So với báo cáo khai giảng đầu năm 2012-2013, tăng 17 trường, tăng 252 lớp và tăng 8.464 học sinh (tăng: MN 4.765, TH 2.222, THCS 2.708; giảm: THPT 1.227). Toàn Ngành có 23.448 cán bộ, giáo viên và công nhân viên, trong đó số giáo viên: 18.518, hiện tại còn thiếu gần 1.000 giáo viên của các ngành học, cấp học, trong đó thiếu nhiều nhất là mầm non hơn 600 giáo viên. Tổng số phòng học hiện có là 9.227 phòng, trong đó phòng học cây tol 99 phòng, chiếm tỷ lệ 1,07%, số phòng xây mới trong hè 144 phòng. Tổng số phòng học còn thiếu 761 phòng (MN 321, TH 239, THCS 78, THPT 116, GDTX 07).

Hoạt động văn hóa: Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang đã chủ động tổ chức triển khai sự kiện chính trị thành công như: Lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng trở về và lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh tại Phú Quốc; tổ chức tốt các sự kiện chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, các lễ hội trong tỉnh đảm bảo an toàn, tiết kiệm và trang trọng, tạo ấn tượng sâu sắc; chương trình giao lưu nghệ thuật “Hướng về biên giới - biển đảo quê hương; Thực hiện khá tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với phong trào thi đua “Chung tay xây dựng nông thôn mới” với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có nhiều chuyển biến tích cực;

Hoạt động thể dục thể thao tiếp tục được đẩy mạnh, tổ chức Đại hội Thể dục Thể thao cấp cơ sở và đăng cai tổ chức thành công 08 giải thi đấu thể thao khu vực và toàn quốc. Các đội tuyển tham gia thi đấu 25 giải khu vực, toàn quốc, quốc tế đạt tổng cộng 135 huy chương, (trong đó có 40 HCV, 38 HCB, 57 HCĐ). Riêng Đại hội Thể dục Thể thao ĐBSCL lần thứ V - 2013, đoàn Kiên Giang tham gia thi đấu 13/26 môn; đã hoàn thành xong 13 môn thi đấu, đạt được 86 huy chương (25 HCV, 24 HCB, 37 HCĐ), xếp hạng 8 trong 14 đơn vị tham dự.

Công tác thanh, kiểm tra hoạt động văn hóa cũng được duy trì thường xuyên đã phối hợp với Đội kiểm tra liên ngành 814 tổ chức 10 cuộc thanh tra, kiểm tra với 207 cơ sở hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa, du lịch; trong đó lập biên bản vi phạm hành chính 70 cơ sở chủ yếu hoạt động kinh doanh karaoke, mua bán băng, đĩa hình, hoạt động hát với nhau, quảng cáo ngoài trời, trò chơi điện tử, dịch vụ internet, mua bán đồ chơi trẻ em và hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 25 cơ sở với tổng số tiền 170,2 triệu đồng; tịch thu 12.137 đĩa không dán tem nhãn kiểm soát, 08 máy đánh bạc và 03 trò chơi điện tử mang tính chất cờ bạc trá hình.  Đồng thời, triển khai 03 cuộc thanh tra hành chính tại Sở, Ban Quản lý di tích tỉnh và Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Kiên Lương.

Về y tế : Trong chín tháng đầu năm, ngành y tế đã tăng cường công tác giám sát, nắm bắt kịp thời diễn biến về tình hình dịch để phát hiện kịp thời các ổ dịch có biện pháp dập dịch theo quy định; triển khai thực hiện các kế hoạch, đề án của ngành như Chiến lược quốc gia, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, Đề án Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang là bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện  Ung bướu và Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP HCM, giai đoạn 2013-2020...; cấp chứng chỉ hành nghề; thực hiện tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh; cung ứng thuốc thường xuyên, đầy đủ, kịp thời cho công tác điều trị và phòng, chống dịch bệnh... . Toàn tỉnh hiện vẫn có 13 bệnh viện, 130 trạm y tế và 15 phòng khám đa khoa khu vực, với 7.052 cán bộ y tế, 1.011 bác sĩ. Trong 9 tháng các cơ sở y tế trong tỉnh đã khám bệnh cho 3.825.588 lượt người, tăng 5,15% so cùng kỳ; điều trị nội trú cho 154.964 lượt bệnh nhân, giảm 2,31%; tử vong 248 ca, giảm 51 cas so cùng kỳ, tỷ lệ tử vong 0,16%.

Tình hình diễn biến các bệnh truyền nhiễm tương đối ổn định, không xảy ra dịch. Tính từ đầu năm toàn tỉnh có 816 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng,giảm 249 trường hợp mắc so với cùng kỳ năm 2012. Số mắc tập trung nhiều tại các địa phương Hòn Đất (218 cas), Rạch Giá (142 cas), Tân Hiệp (91cas), Giồng Riềng (61cas), Hà Tiên (52cas), Châu Thành (43 cas), Giang Thành (43 cas)... không ghi nhận trường hợp biến chứng và tử vong. Số mắc sốt xuất huyết là 666 trường hợp, giảm 2006 cas (giảm 75,1%). Địa phương có số mắc cao là Phú Quốc (296 cas), Hòn Đất (86cas), TP.Rạch Giá (70cas), Gò Quao (60 cas), chưa có vụ dịch nào xảy ra, không ghi nhận có cas biến chứng và tử vong. Số người mới nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh là 229 người, tăng 20 người ( 9,57%) % so với cùng kỳ năm 2012. Số cas chuyển sang AIDS là 81cas, tử vong do AIDS là 14 người, tăng 04 ca (40%) so với cùng kỳ 2012.

Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Chín tháng đầu năm đã cấp mới giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) cho 418 cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống, nhà hàng. Tổng số cơ sở quản lý chất lượng VSATTP trên địa bàn toàn tỉnh là 14.226 cơ sở, kiểm tra ATVSTP 16.287 cơ sở cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh, đạt 111,5 % kế hoạch. Kết quả thanh, kiểm tra có 13.668 cơ sở đảm bảo VSATTP theo quy định và 2.619 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP, đã xử lý 539 cơ sở vi phạm phạt tiền 146 cơ sở với số tiền là 297,4 triệu đồng; tiêu hủy 285 kg thực phẩm các loại không đảm bảo tiêu chuẩn sản phẩm, nhắc nhở 2.362 cơ sở, cảnh cáo là 182 cơ sở và đề nghị đóng cửa 01 cơ sở do kinh doanh không có giấy phép. Đã có 01 vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra, với 79 người bị ngộ độc thực phẩm, vụ ngộ độc thực phẩm tại Khu nuôi thủy hải sản Đồng Hòa (Công ty BIM), xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành có 46 người mắc, nhưng không có người tử vong, nguyên nhân xảy ra ngộ độc là do vi sinh vật tăng cao trong thực phẩm.   33 cas ngộ độc thực phẩm lẻ tẻ, trong đó: 32 cas do tác dụng độc của cồn, 01 ca tác dụng của chất độc do ăn đồ biển.

 Tai nạn giao thông: Theo Ban an toàn giao thông tỉnh Kiên giang, trong tháng 8 (từ ngày 01/8/2013 đến 31/8/2013), trên toàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ TNGT (toàn đường bộ), làm chết 6 người và bị thương 6 người. So với tháng trước tăng 2 vụ, số người chết giảm 1 người và bị thương không tăng. So tháng cùng kỳ năm 2012 tai nạn giao thông không tăng, chết giảm 2 người, bị thương tăng 1 người. Trong đó: đường bộ xảy ra 9 vụ, chết 6 người, bị thương 6 người. So tháng cùng kỳ năm 2012 tăng 1 vụ, chết không tăng, bị thương tăng 1 người. Đường thuỷ so với tháng cùng kỳ năm 2012 giảm 1 vụ, chết giảm 2 người, bị thương  không tăng.

Tính chung 8 tháng xảy ra 78 vụ TNGT, làm chết 60 người và bị thương 50 người, so cùng kỳ năm 2012, số vụ không tăng, số người chết giảm 3 người, bị thương tăng 9 người.

Tình hình tai nạn giao thông trong các tháng trong năm chưa có xu hướng giảm, việc sử dụng đa dạng phương tiện giao thông chuyên chở hàng hóa trên tuyến đường hẹp không có vĩa hè, những người uống rượu bia tham gia giao thông, phóng nhanh vượt ẩu thiếu quan sát, chưa am hiểu về Luật GT.. là những nguyên nhân dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông, vì vậy các ngành chức năng cần duy trì thường xuyên tuần tra, kiểm soát, đồng thời tuyên truyền phổ biến sâu rộng Luật giao thông, về nguyên nhân dễ gây tai nạn, nâng dần ý thức người dân vì bản thân, vì cộng đồng khi tham gia giao thông.

Thiên tai: Do ảnh hưởng cơn bảo số 8, 9 , gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh, từ ngày 19/9 đến ngày 23/9 một số huyện trong tỉnh xảy ra mưa to kèm giông, lốc gây thiệt hại khá nhiều tài sản. Huyện AnMinh bị sập hoàn toàn 10 căn nhà, tốc mái 23 căn, làm bị thương 03 người, tổng giá trị thiệt hại trên 400 triệu đồng. Ngành chức năng huyện AnMinh đã chi hỗ trợ đột xuất cho 08 căn nhà sập với số tiền là 33 triệu đồng và tích cực hỗ trợ lực lượng tiếp dân khắc phục nhà sập, tốc mái. Huyện U Minh Thượng sập hoàn toàn 9 căn, tốc mái 21 căn và 6 phòng học tại trường Tiểu học Minh Thuận bị hư hại một phần, tổng giá trị thiệt hại ước  tính 80 triệu đồng. Huyện Hòn Đất bị sập 15 căn, tốc mái 31 căn, ước tính tổng thiệt hại 300 triệu đồng. Huyện Vĩnh Thuận bị sập 9 căn, tốc mái 15 căn, tổng thiệt hại 53 triệu đồng, Huyện Kiên Hải bị chìm 1 ghe cào và một ghe máy, ước thiệt hại 130 triệu đồng

Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh thiên tai đã làm sập 130 căn nhà, tốc mái 320 căn, chìm 2 ghe câu mực, 1 ghe cào, 1 ghe máy, 56 ha lúa sắp thu hoạch sập đổ, 03 người bị thương và 01 người chết. Ước tổng thiệt hại lên 3,98 tỷ đồng.

Tình hình cháy nổ: Từ ngày 16/8 đến 15/9/2013 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy do chập điện 02 vụ, 01 bất cẩn khi dùng lửa và 01 vụ nổ van bình khí hàn gió đá, ước tính thiệt hại 142 triệu đồng và không gây thiệt hại về người. Tính từ đầu năm đến nay đã xảy ra 29 vụ cháy và 3 vụ nổ làm chết 6 người và bị thương 1 người. Tổng thiệt hại  9,5 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy nổ giảm 35 vụ, mức độ thiệt hại giảm 10,8 tỷ đồng.

Bảo vệ môi trường Trong 9 tháng đầu năm, cơ quan chức năng bảo vệ môi trường đã tổ chức 10 đoàn thanh, kiểm tra các đơn vị sản xuất kinh doanh. Kết quả hầu hết các đơn vị đều có vi phạm, chủ yếu xả nước thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn chất thải, đồng thời ban hành 11 quyết định xử phạt với số tiền 171,5 triệu đồng, 01 quyết định khắc phục hậu quả về tài nguyên nước và trình UBND tỉnh ban hành 3 quyết định xử phạt 3 đơn vị với số tiền phạt 379 triệu đồng.

8. Đề xuất kiến nghị:

Kinh tế - xã hội của tỉnh 9 tháng đầu năm tuy vẫn ổn định và tăng trưởng, nhưng mức tăng đã chậm lại, một số chỉ tiêu đạt khá so với kế hoạch như thu ngân sách, sản xuất lúa, vận tải hành khách, hàng hóa. Tuy nhiên còn một số chỉ tiêu lớn so với kế hoạch còn rất thấp như sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 68,24%, trong đó tôm nuôi mới đạt 61,4%; xi măng đạt 69,5%, thủy sản đông lạnh đạt 56,27%; giá trị xuất khẩu đạt 67,06%; tổng mức bán lẻ đạt 70,76% … Để đạt được mức tăng trưởng GDP cả năm với kết quả cao nhất, Cục Thống kê có một số kiến nghị với lãnh đạo tỉnh trong chỉ đạo điều hành 3 tháng còn lại của năm như  sau:

-      Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị Quyết của Chính phủ về những giải pháp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát.

-      Trong sản xuất nông nghiệp, cần tập trung ưu tiên cho việc nghiên cứu sản xuất giống cả vật nuôi và cây trồng. Đồng thời tăng cường khuyến khích sự liên kết trong sản xuất giữa nông dân với nông dân và nông dân với doanh nghiệp, ngân hàng, nhà khoa học.  

-      Tăng cường công tác phòng, trừ dịch bệnh trên vật nuôi, cây trồng để nông dân yên tâm mở rộng sản xuất; đẩy mạnh đầu tư hệ thống kênh mương dẫn nước, tạo điều kiện thuận lợi phát triển diện tích nuôi tôm công nghiệp, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu thủy sản.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh để kịp thời ngăn chặn gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tạo uy tín hàng hóa của tỉnh trên thị trường nội địa và xuất khẩu./.

Tải về:  - Số liệu kinh tế xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2013

              - Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 9 năm 2013

Số lần đọc: 1014
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan