23.11.2016

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:

a. Nông nghiệp:

* Vụ Hè thu: Kết thúc gieo trồng toàn tỉnh được 295.389 ha, đạt 97,81% kế hoạch và giảm 1,64% (4.933 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng vụ hè thu năm nay không đạt kế hoạch và chậm hơn so với lịch thời vụ, nguyên nhân do thời tiết nắng hạn kéo dài, nguồn nước bị nhiễm mặn không thể gieo trồng được. Một số diện tích ở huyện An Biên bị nhiễm mặn nên đã thiệt hại mất trắng 177 ha. Năng suất đạt 5,48 tấn/ha, so kế hoạch giảm 0,086 tấn/ha và tăng 0,103 tấn/ha so với vụ này năm trước. Sản lượng đạt 1.619.209 tấn, giảm 3,71% kế hoạch (giảm 62.466 tấn) và tăng 0,23% so vụ này năm trước (tăng 3.778 tấn).   

* Vụ Thu Đông (vụ 3): Tính đến nay, diện tích gieo trồng được 92.182 ha, đạt 102,42% so kế hoạch (kế hoạch chưa điều chỉnh) và tăng 4,54% so với cùng kỳ, tập trung ở các huyện Giồng Riềng 40.005 ha, Tân Hiệp 33.699 ha, Châu Thành 7.276 ha, Hòn Đất 7.690 ha, Gò Quao 2.462 ha,  Rạch Giá 650 ha và Giang Thành 400 ha. Đến nay đã thu hoạch được 88.281ha, năng suất ước đạt 5,23 tấn/ha.

* Vụ mùa (2016-2017): Đến nay diện tích gieo trồng 47.029 ha, bằng 75,90 % so với cùng kỳ, gồm các huyện như: An Minh 18.976 ha, Vĩnh Thuận 10.985 ha, U Minh Thượng 6.808 ha, An Biên 8.141 ha, Gò Quao 1.618 ha và Hà Tiên 501ha.

        * Vụ Đông Xuân (2016-2017): Diện tích gieo sạ 90.213 ha, tăng 59,64% so với cùng kỳ, tập trung ở các huyện như: U Minh Thượng 10.501 ha, Vĩnh Thuận 7.909 ha, An Biên 14.282 ha, An Minh 100 ha, Tân Hiệp 7.903 ha, Hòn Đất 4.374 ha, Rạch Giá 600 ha, Châu Thành 4.620 ha, Giang Thành 17.000 ha...

Hiện nay, diện tích bị bệnh trên lúa Đông xuân là 2.195 ha, chủ yếu xảy ra một số bệnh như Đạo ôn lá 1.420 ha, sâu cuốn lá 277 ha, bệnh OBV 216 ha…

* Cây màu: Tính từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã trồng được 1.351 ha dưa hấu, đạt 84,44% kế hoạch và giảm 6,51% so với cùng kỳ; khoai lang 1.544 ha, đạt 99,61% kế hoạch, tăng 6,48% so với cùng kỳ; bắp 183 ha, đạt 61,00% so với kế hoạch, giảm 21,79% so với cùng kỳ; rau đậu các loại 8.286 ha, đạt 97,48% kế hoạch, tăng 14,76% so cùng kỳ năm trước ...

* Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc,  gia cầm từ đầu năm đến nay phát triển ổn định và có tăng nhẹ so với cùng kỳ, một phần do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, giá cả tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi ổn định và có tăng nhẹ làm cho người nuôi có lãi nên bà con yên tâm tái đàn, mặt khác là do ngành Thú y tỉnh đã quản lý tốt dịch bệnh, từ đầu năm đến nay chưa phát hiện ổ dịch lớn nào xảy ra trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên, hiện nay thời tiết diễn biến bất thường nên dễ phát sinh dịch bệnh, để phòng chống dịch bệnh ngành chức năng và chính quyền các địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền cho nông dân thực hiện việc đảm bảo vệ sinh chuồng trại và tiêm phòng đầy đủ cho đàn gia súc, gia cầm.

b. Lâm nghiệp:

Các ngành chức năng thường xuyên thực hiện tốt công tác bảo vệ và chăm sóc rừng, tuy nhiên trong tháng đã xảy ra 01 vụ vi phạm chặt phá rừng ở Phú Quốc với diện tích thiệt hại 0,177 ha. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên toàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy rừng với diện tích 5,7 ha; 35 vụ chặt phá rừng với diện tích 4,625 ha. Chủ yếu là chặt phá rừng lấn chiếm đất để nuôi trồng thủy sản.

c. Thủy sản:

Giá trị sản xuất  thủy sản (theo giá so sánh 2010): Tháng 11, ước tính giá trị sản xuất thủy sản đạt 2.213,41 tỷ đồng, bằng 98,32%  so với tháng trước và tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Giá trị khai thác 1.165,64 tỷ đồng, bằng 99,50% so tháng trước và tăng 10,29% so cùng kỳ; giá trị nuôi trồng 967,77 tỷ đồng, bằng 96,94 % so tháng trước và giảm 8,07% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng giá trị sản xuất cả khai thác và nuôi trồng là 23.073,75 tỷ đồng, đạt 95,56% kế hoạch năm và tăng 10,50% so cùng kỳ năm trước. Chia ra: khai thác 13.026,11 tỷ đồng, đạt 102,84% kế hoạch và tăng 13,32% so cùng kỳ; nuôi trồng 10.047,64 tỷ đồng, đạt 87,52% kế hoạch, tăng 7,04% so cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản (khai thác và nuôi trồng) tháng 11 ước đạt 61.135 tấn, bằng 99,17% so tháng trước và tăng 5,47% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng đạt 652.641 tấn, đạt 94,28% kế hoạch và tăng 4,69% so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác: Tháng 11 ước tính đạt 43.143 tấn thủy hải sản các loại, giảm 0,57% (giảm 248 tấn) so tháng trước. Trong đó: cá các loại được 31.011 tấn, giảm 0,82% (giảm 256 tấn); tôm 3.223 tấn, tăng 2,87% (tăng 90 tấn); mực: 5.664 tấn, giảm 0,94% (giảm 54 tấn)...

Luỹ kế sản lượng khai thác 11 tháng là 476.152 tấn, đạt 95,37% kế hoạch năm và tăng 5,13% so cùng kỳ năm trước (tăng 23.227 tấn), trong đó: Cá các loại 341.771 tấn, tăng 7,99% (tăng 25.300 tấn); tôm: 34.206 tấn, giảm 7,49% (giảm -2.771 tấn); mực: 61.491 tấn, tăng 5,93% (tăng 3.445 tấn) so cùng kỳ...

Sản lượng nuôi trồng: Tháng 11 ước đạt 17.992 tấn thủy sản các loại, bằng 98,55% so tháng trước (giảm 265 tấn) và tăng 9,07% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá các loại 4.263 tấn, bằng 50,70% so tháng trước; tôm thẻ chân trắng 2.506 tấn, tăng 45,28% so tháng trước và bằng 82,16% so với cùng kỳ; riêng tôm sú được 2.150 tấn, bằng 68,34% so tháng trước (giảm 5097 tấn); thủy sản khác như sò các loại 2.617 tấn, tăng 32,10%; cua: 2.129 tấn, tăng 55,86% so tháng trước ... Luỹ kế 11 tháng sản lượng nuôi trồng là 176.489 tấn, đạt 91,45% kế hoạch, tăng 3,54% (tăng 6.036 tấn) so cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá nuôi các loại 55.888 tấn, giảm 6,33% (giảm 3.779 tấn); tôm các loại 51.484 tấn, tăng 6,66% (tăng 3.215 tấn), trong đó: tôm thẻ chân trắng 12.172 tấn, giảm 8,83% (giảm 1.179 tấn); thủy sản khác như: sò nuôi 28.976 tấn, giảm 8.353 tấn; cua 14.680 tấn, tăng 3.694 tấn ...

Sản lượng nuôi trồng 11 tháng có tăng nhẹ so với cùng kỳ, chủ yếu là tăng sản lượng tôm sú, tôm càng xanh. Do năm nay thời tiết biến đổi, diện tích tôm lúa vùng U Minh Thượng bị xâm nhập mặn nên không thể cấy lúa được, bà con chuyển sang nuôi tôm 2 vụ, mô hình nuôi tôm càng xanh cùng với tôm thẻ chân trắng và tôm sú đang đem lại hiệu quả kinh tế khá cao; hơn nữa các loại thủy sản khác cũng tăng khá cao như hến, cua...

2. Công nghiệp:

Chỉ số sản xuất công nghiệp: Trong tháng 11, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 10,82% so tháng trước và tăng 15,84% so cùng kỳ năm trước. Ngành tăng cao nhất là khai khoáng tăng 15,00%; kế đến là ngành chế biến, chế tạo tăng 10,80%, trong đó: ngành chế biến, bảo quản thủy sản tăng 12,62%, ngành sản xuất xi măng, vôi và thạch cao tăng  8,50%; Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 7,30%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,06%.

Tính từ đầu năm đến nay, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,98% so cùng kỳ năm trước, ngành tăng cao nhất là ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 12,96%; ngành khai khoáng tăng 9,27%; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,94%, trong đó: ngành sản xuất xi măng, vôi và thạch cao tăng 19,33%, ngành chế biến, bảo quản thủy sản tăng 8,50%, xay xát tăng 4,56%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 10,10%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): Tháng 11, ước đạt 4.581,19 tỷ đồng, tăng 10,76% so tháng trước, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 4.434,35 tỷ đồng, chiếm 96,79% tổng giá trị toàn ngành, tăng 10,80% so với tháng trước; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 77,84 tỷ đồng, tăng 7,33%; ngành khai khoáng đạt 51,79 tỷ đồng, tăng 14,60%.

Tính chung 11 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 34.130,09 tỷ đồng, đạt 87,32% kế hoạch năm và tăng 9,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 32.535 tỷ đồng, chiếm 95,33% tổng giá trị toàn ngành, tăng 9,97%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 983,17 tỷ đồng, tăng 10,10%; ngành khai khoáng 431,70 tỷ đồng, tăng 9,27%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải 179,61 tỷ đồng, tăng 12,96% so cùng kỳ.

   Một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng có mức tăng khá cao so cùng kỳ năm trước như: Xi măng địa phương đạt 1.038,22 ngàn tấn, tăng 22,19%; xi măng Trung ương đạt 1.283,53 ngàn tấn, tăng 37,59%; cá đông 3.486 tấn, tăng 5,03%; bột cá 109.485 tấn, tăng 12,32%...

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng đầu năm tăng 7,76% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ  10 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Ngành chế biến chế tạo tăng 7,76%, trong đó ngành bảo quản thủy sản ướp đông tăng 11,82% , ngành sản xuất nước mắm tăng 14,95%, ngành xay xát tăng 7,08%; Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 20,37%, trong đó sản xuất xi măng vôi và thạch cao tăng 20,85%.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại thời điểm 1/11/2016 bằng 58,74% so cùng kỳ năm trước. Ngành chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản bằng 58,19% so cùng kỳ, trong đó: các ngành chế biến cá, tôm, mực đông lạnh đều giảm so với cùng kỳ, riêng mặt hàng nước mắm lại tăng 2,41 lần so cùng kỳ; Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác bằng 83,76%  so cùng kỳ. Chỉ số tồn kho công nghiệp tại thời điểm đầu tháng 11/2016 cho thấy: Tình hình tiêu thụ  sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản 11 tháng năm 2016 tăng đều. Tuy nhiên, chỉ số hàng tồn kho của mặt hàng nước mắm rất cao so với cùng kỳ năm trước, một mặt do tác động của việc công bố sản phẩm nước mắm truyền thống có chứa asen của Hội bảo vệ người tiêu dùng.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/11/2016 giảm 3,19% so với cùng thời điểm này năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 2,01%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 4,50% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá ổn định.

3. Vốn đầu tư:

  Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 ước tính đạt 492,7 tỷ đồng, so tháng trước tăng 10,91%. Bao gồm: Vốn cân đối ngân sách địa phương 235,80 tỷ đồng; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương được 107,2 tỷ đồng; vốn ngoài nước (ODA) được 15,2 tỷ đồng. Lũy kế  11 tháng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước được 3.394,84 tỷ đồng, đạt 65,00% kế hoạch năm và bằng 89,64% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn cân đối ngân sách địa phương 1.392,15 tỷ đồng, đạt 80,62% kế hoạch; vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương được 757,93 tỷ đồng, đạt 74,94% kế hoạch, bằng 73,69% cùng kỳ; vốn ngoài nước ODA 148,58 tỷ đồng, đạt 81,42% kế hoạch, bằng 83,68% so với cùng kỳ năm 2015.

4. Thu, chi ngân sách:

Tổng thu ngân sách trên địa bàn: Tháng 11 ước tính thu ngân sách 681,76 tỷ đồng, tăng  41,19% so tháng trước và giảm 8,10% so cùng kỳ năm trước. Tổng thu ngân  sách 11 tháng  là  6.988,61 tỷ đồng, đạt 108,66% dự toán HĐND tỉnh giao và bằng 101,20% so cùng kỳ năm 2015. Trong đó: thu nội địa 5.715,77 tỷ đồng, đạt 113,38% dự toán và tăng 21,51% so cùng kỳ, chiếm 81,78% / tổng thu ngân sách của tỉnh. Qua 11 tháng, một số khoản thu đạt được cụ thể như sau: Thu tiền sử dụng đất 1.072,23 tỷ đồng, vượt  31,34% dự toán nhưng giảm 11,10% so với cùng kỳ; thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 457,6 tỷ đồng, vượt 60,56% dự toán, tăng 43,98% so cùng kỳ; thu thuế công, thương nghiệp ngoài nhà nước 1.861,91 tỷ đồng, vượt 24,13% dự toán, tăng 63,06%; thu phí trước bạ 230,45 tỷ đồng, đạt 93,11% dự toán và tăng 2,83% so với cùng kỳ...

Tổng chi ngân sách địa phương: Tháng 11 ước chi ngân sách địa phương là 916,59 tỷ đồngtăng 36,15% so tháng trước và bằng 63,01% so cùng kỳ. Tính từ đầu năm, tổng chi ngân sách 9.017,8 tỷ đồng, đạt 84,40% dự toán năm và bằng 95,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi thường xuyên 5.731,09 tỷ đồng, đạt 97,59% dự toán năm và bằng 100,48% so cùng kỳ; chi đầu tư phát triển 2.362,07 tỷ đồng, đạt 76,58% dự toán năm và tăng 67,15% so với cùng kỳ.

5. Ngân hàng:

Ước  đến cuối tháng 11/2016, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 56.420 tỷ đồng, tăng 1,24% so với tháng trước và tăng 12,11% so với đầu năm. Trong đó, số dư huy động vốn tại địa phương đạt 32.720 tỷ đồng, tăng 0,52% so với tháng trước và tăng 16,26% so với đầu năm, chiếm 57,99% tổng nguồn vốn hoạt động.

- Ước doanh số cho vay tháng 11/2016 đạt 8.300 tỷ đồng. Dư nợ cho vay đến 30/11/2016 ước đạt 43.250 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 12,28% so với đầu năm.

- Dư nợ xấu ước 615 tỷ đồng, chiếm 1,42%/tổng dư nợ

- Doanh số cho vay và dư nợ cho vay tính đến 31/10/2016 của một số lĩnh vực cụ thể như sau:

 * Cho vay phát triển thuỷ sản theo Nghị định 67, trong tháng 10/2016, đã thực hiện giải ngân thêm 3,01 tỷ đồng. Tính luỹ kế từ đầu chương trình đến nay, đã thực hiện ký kết và giải ngân 20 hợp đồng tín dụng cho vay đóng mới và nâng cấp tàu với số tiền đã giải ngân là 117,74 tỷ đồng (số tiền cam kết giải ngân 126,22 tỷ đồng); dư nợ đạt 117,08 tỷ đồng. Hiện có 16/20 tàu đã hạ thuỷ.

  * Tiếp tục giải ngân cho vay xuất khẩu số tiền 916 tỷ đồng, luỹ kế từ đầu năm đạt 10.232 tỷ đồng; dư nợ 3.662 tỷ đồng, tăng 17,49% so với đầu năm.

  * Dư nợ cho vay theo các chương trình tín dụng qua Ngân hàng Chính sách xã hội  đạt 2.589 tỷ đồng, tăng 0,66% so với tháng trước và tăng 7,12% so với đầu năm.

6.Thương mại – Dịch vụ:

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước tính tháng 11 đạt 6.755,5 tỷ đồng, tăng 4,16% so tháng trước và tăng 16,57% so cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 66.384,72 tỷ đồng, đạt 91,95% kế hoạch và tăng 13,60% so cùng kỳ năm trước. Trong đó:

* Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 11 ước được 5.160,91 tỷ đồng, tăng 2,93% so tháng trước và tăng 16,32% so cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng ước tính 50.028,89 tỷ đồng, đạt 89,39% kế hoạch và tăng 12,85% so cùng kỳ.

* Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Tháng 11 ước 914,24 tỷ đồng, tăng 12,08% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng được 8.321,53 tỷ đồng, đạt 118,88% so kế hoạch và tăng 14,67% so cùng kỳ năm trước. Chia ra:

Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 11 ước 158,099 tỷ đồng, tăng 9,50% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng 1.322,70 tỷ đồng, tăng 9,50% so cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ ăn uống: Thực hiện tháng 11 ước được 756,14 tỷ đồng, tăng 12,64% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng được 6.998,82 tỷ đồng, tăng 14,37% so cùng kỳ năm trước

* Doanh thu du lịch lữ hành: Tháng 11 ước tính đạt 21,39 tỷ đồng, tăng 9,13% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng doanh thu du lịch lữ hành đạt 199,36 tỷ đồng, đạt 86,68% so kế hoạch và tăng 36,61% so cùng kỳ năm trước, doanh thu lữ hành tăng cao chủ yếu là tăng từ khách quốc tế và khách trong nước đến du lịch tại huyện đảo Phú Quốc và các tuyến biển đi các đảo Nam du, Lại sơn thuộc huyện Kiên Hải và quần đảo bà lụa thuộc huyện Kiên Lương.

* Doanh thu dịch vụ khác: Tháng 11 ước đạt 658,95 tỷ đồng, tăng 3,58% so với tháng trước. Nhiều nhóm doanh thu dịch vụ tăng như: Nhóm dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 5,51%; dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 47,81%; dịch vụ sửa chữa máy tính, đồ dùng tăng 7,78%...

Lũy kế 11 tháng doanh thu các hoạt động dịch vụ đạt 7.834,93 tỷ đồng, đạt 87,05% so kế hoạch và tăng 16,94% so cùng kỳ năm trước. Đa số các hoạt động dịch vụ doanh thu đều tăng khá cao như: Nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng cao nhất 68,91%; kế đến nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 12,38%; nhóm hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 15,06%...

* Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường: Trong tháng 10 đã kiểm tra 254 vụ việc, phát hiện 41 vụ vi phạm quy định nhà nước, gồm: 16 vụ vi phạm hàng cấm, hàng nhập lậu; 17 vụ gian lận thương mại; 01 vụ vi phạm về hàng giả, hàng kém chất lượng, quyền sở hữu trí tuệ; 03 vụ vi phạm về vệ sinh an tòan thực phẩm và 04 vụ vi phạm khác trong kinh doanh. Đã xử lý các vụ vi phạm, phạt hành chính và bán hàng hóa tịch thu nộp ngân sách nhà nước 438,9 triệu đồng.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu: Tháng 11 dự tính đạt 46,79 triệu USD, tăng  28,85% so với tháng trước, bằng 51,56% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Hàng nông sản trên 27,97 triệu USD, tăng 47,17% so tháng trước; hàng thủy sản 14,58 triệu USD, tăng 6,88% so tháng trước; hàng hóa khác 4,23 triệu USD, tăng 15,61% so tháng trước.

Luỹ kế 11 tháng kim ngạch xuất ước thực hiện gần 341,38 triệu USD, đạt 77,59% kế hoạch năm, bằng 99,20% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Hàng nông sản 197,89 triệu USD, đạt 77,60% kế hoạch năm, bằng 98,91% so cùng kỳ; hàng thủy sản 121,21 triệu USD, đạt 78,20 % kế hoạch, giảm 0,39%; hàng hóa khác trên 22,27 triệu USD, đạt 74,23% kế hoạch, bằng 99,6% so cùng kỳ năm trước.

Tổng lượng gạo dự kiến xuất trong tháng 11 là 61.119 tấn với trị giá gần 28 triệu USD. Bao gồm: Công ty Du lịch – Thương mại dự kiến xuất trực tiếp 9.220 tấn, trị giá trên 3,4 triệu USD; Công ty Cp kinh doanh nông sản ước xuất 3.899 tấn, trị giá gần 1,5 triệu USD; Công ty xuất nhập khẩu Kiên Giang dự kiến xuất trực tiếp 45.000 tấn, trị giá trên 22,2 triệu USD; Công ty Cp Nông;  Công ty Dịch vụ thương mại dự kiến xuất 3.000 tấn, trị giá 996 ngàn USD.

 Mặt hàng thủy hải sản dự kiến xuất khẩu tháng 11 năm 2016 chủ yếu như: Tôm đông 243 tấn, tăng 9,95% so tháng trước; Mực, tuộc đông 941 tấn, tăng 12,02%; Cá đông 215 tấn, tăng 10,26%; thuỷ, hải sản đông khác 1.150 tấn, tăng 24,46%; Cá cơm sấy 30 tấn, tăng 7,14%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu: Thực hiện nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2016 ước đạt 5,02 triệu USD, bằng 33,38% so với tháng trước, bằng 66,20%  so cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính được 57,86 triệu USD, đạt 89,02% kế hoạch năm, tăng 24,94% so cùng kỳ.

c. Chỉ số giá:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Từ tháng 10/2016 việc tính chỉ số giá tiêu dùng được điều chỉnh thời gian thu thập giá và tính chỉ số, chỉ số giá được tính trọn trong tháng và được công bố vào cuối tháng, nên tháng 11 phải tới cuối tháng mới có chỉ số giá của tháng 11. Tháng 10 được tính điều chỉnh chỉ số giá như sau: Chỉ số giá chung tăng 0,21% so với tháng trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,24%, khu vực nông thôn tăng 0,20%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 so tháng trước tăng cao nhất là nhóm giao thông do việc điều chỉnh tăng giá xăng, dầu nên đã làm tăng chỉ số giá của nhóm này 2,14%; kế đó là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,50%. Các nhóm còn lại chỉ số giá ổ định hoặc giảm nhẹ, như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,04%; nhóm đồ uống, thuốc lá giảm 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%.

Sau 10 tháng (tháng 10/2016 so với tháng 12/2015) chỉ số giá tăng 2,72%. Sau một năm (so với tháng 10/2015) chỉ số giá tăng 2,91%, trong đó: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất là 25,15%; nhóm giáo dục tăng 7,59%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,67%...Tuy nhiên vẫn có 4 nhóm có chỉ số giá giảm đó là: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,15%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,75%; nhóm giao thông giảm 5,04% và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,3%.

Chỉ số giá vàng: Chỉ số giá vàng tháng 10 so với tháng trước giảm 2,69% với giá bán ra bình quân trong tháng là 3.581.000 đ/chỉ (vàng 9999); và so với cùng kỳ năm trước (tháng 10/2015) chỉ số giá vàng vẫn tăng 11,39%.

Chỉ số giá Đô la Mỹ: Giá đồng USD đang có xu hướng tăng nhẹ so với VND, tháng 10 chỉ số giá USD tiếp tục tăng 0,24% so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ năm trước (tháng 10/2015) cũng chỉ tăng 0,07%.

d. Vận tải:

Vận tải hành khách: Tháng 11 vận tải hành khách ước tính đạt 5,77 triệu lượt khách, tăng 3,00% so tháng trước; luân chuyển 256,46 triệu HK.km, tăng 3,11% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng vận tải hành khách ước tính được 63,69 triệu lượt khách, đạt 92,93% kế hoạch và tăng 10,28% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 3.827,52 triệu HK.km, đạt 94,89%  kế hoạch và tăng 9,78% so cùng kỳ. Bao gồm: Vận tải hành khách đường bộ 51,46 triệu lượt khách, tăng 10,62% so cùng kỳ và luân chuyển 3.057,61 triệu lượt khách.km, tăng 9,98% so cùng kỳ; Vận tải hành khách đường sông 10,29 triệu lượt khách, tăng 7,51% và luân chuyển 568,90 triệu lượt khách.km, tăng 7,01%; Vận tải hành khách đường biển 1,94 triệu lượt khách, tăng 16,80% và luân chuyển 201,00 triệu lượt khách.km, tăng 15,00% so cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa: Tháng 11 vận tải hàng hóa ước tính đạt 871 ngàn tấn, tăng 2,96% so tháng trước; luân chuyển 118,43 triệu tấn.km, tăng 3,07% so tháng trước. Lũy kế 11 tháng vận tải hàng hóa ước tính đạt 9,139 triệu tấn, đạt 90,80% kế hoạch năm và tăng 7,54% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển 1.231,84 triệu tấn.km, đạt 90,26% kế hoạch và tăng 7,03% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vận tải hàng hóa đường bộ 2,779 triệu tấn, tăng 8,22% so cùng kỳ và luân chuyển 385,56 triệu tấn.km, tăng 7,67%; Vận tải hàng hóa đường sông 3,769 triệu tấn, tăng 7,23% và luân chuyển 471,59 triệu tấn.km, tăng 7,03% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đường biển 2,59 triệu tấn, tăng 7,29% và luân chuyển 374,68 triệu tấn.km, tăng 6,38% so cùng kỳ năm trước.

 đ. Du lịch:

  Trong tháng tổng lượt khách  du lịch ước tính trên 368,93 ngàn lượt khách, tăng 2,49% so tháng trước và tăng 41,67% so cùng kỳ. Trong đó: Số lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt trên 229,17 ngàn lượt khách, tăng 9,98% so với tháng trước; số khách quốc tế đạt trên 22,48 ngàn lượt khách, tăng 18,09% so với tháng trước. Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch gồm: Số lượt khách từ cơ sở lưu trú du lịch phục vụ đạt 208,73 ngàn lượt khách, tăng 9,04% so tháng trước và số lượt khách du lịch đi theo tour đạt 20,44 ngàn lượt khách, tăng 20,57% so tháng trước.

  Tính từ đầu năm, tổng lượt khách du lịch ước tính đạt trên 5.310 ngàn lượt khách, đạt 107,49% kế hoạch năm và tăng 30,33% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch 2.497,40 ngàn lượt khách, tăng 39,07% so cùng kỳ. Số khách quốc tế đạt 269,62 ngàn lượt khách, tăng 29,70% so với cùng kỳ. Khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch chia ra: Lượt khách cơ sở lưu trú du lịch phục vụ đạt 2.353,57 ngàn lượt khách, tăng 42,54% và khách du lịch đi theo tour đạt 143,83 ngàn lượt khách, giảm 0,52% so cùng kỳ năm 2015.

7. Một số tình hình xã hội:

a. Lao động, việc làm:

Tháng 11 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 3.763 lượt lao động, (trong tỉnh 1.657 lượt lao động, ngoài tỉnh 2.104 lượt lao động, xuất khẩu 02 lao động). Lũy kế từ đầu năm đến nay đã giải quyết việc làm cho 31.312 lượt người, đạt 94,88% kế hoạch, trong đó trong tỉnh 13.149 lượt lao động, ngoài tỉnh 18.095 lượt lao động, xuất khẩu lao động 68 người (Nhật Bản 27 người, Hàn Quốc 26 người, Đài Loan 14 người, Ả Rập 01 người).

Trung tâm Giới thiệu việc làm: Đã tư vấn việc làm cho 3.516 lượt lao động, trong đó có việc làm 487 lao động. Trong tháng giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 404 lao động, lũy kế từ đầu năm đến nay lên 8.253 lao động. Trung tâm đã đưa lao động đi tham dự kỳ thi tiếng Hàn Quốc lần thứ 11 với số lượng 152 học viên, kết quả có 22 lao động đạt trong kỳ thi tiếng Hàn và hoàn thành hồ sơ gửi về Trung tâm lao động Ngoài nước.

Công tác đào tạo nghề: Trong tháng các cơ sở đã tổ chức đào tạo nghề cho 2.646 người, trong đó: sơ cấp là 430 người, dạy nghề dưới 3 tháng là 2.216 người. Nâng tổng số người được đào tạo trong 11 tháng lên 22.175 người, đạt 79,2% kế hoạch năm, trong đó: Cao đẳng: 385 người, Trung cấp nghề 1.482 người, sơ cấp nghề 5.820 người và dạy nghề dưới 3 tháng là 14.488 người.

b. Tình hình giáo dục:

    Trong tháng 11, ngành giáo dục đã thực hiện tốt kế hoạch đề ra như sau:

Giáo dục mầm non: Tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra, thẩm định trường Mẫu giáo Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất đạt chuẩn quốc gia. Thẩm định kỹ thuật trường mầm non đạt chuẩn quốc gia thuộc huyện Vĩnh Thuận. Tiếp nhận hồ sơ đề nghị kiểm tra, thẩm định 02 trường MN đạt chuẩn quốc gia của huyện U Minh Thượng.

Giáo dục tiểu học: Tổng hợp số liệu thống kê học sinh đầu năm học; Chỉ đạo các đơn vị thực hiện việc “Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh cúm A (H1N1) và sốt xuất huyết. Tham gia cùng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tập huấn truyền thông về “Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trong trường phổ thông” tại huyện Tân Hiệp, An Minh, Kiên Lương và Châu Thành.

Giáo dục trung học: Tổ chức triển khai tập huấn bơi lội cứu đuối cho 129 giáo viên dạy môn Thể dục ở các trường Tiểu học và THCS; tập huấn mô hình trường học mới lần 3 cho CBQL các Phòng GDĐT và giáo viên của 199 trường phổ thông có học sinh THCS. Tổ chức thành công Cuộc thi Văn hay Chữ tốt cấp Tỉnh dành cho học sinh THCS của 15 huyện thị thành phố tham dự; có 16 học sinh đạt giải (2 giải nhất, 2 giải nhì, 2 giải ba và 10 giải tư), đồng thời chọn 06 học sinh đạt giải cao tham dự thi cấp khu vực tại tỉnh Long An.

c. Tình hình văn hóa, nghệ thuật, thể thao:

Ngành văn hóa thể thao trên địa bàn đã tập trung tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị nhất là tuyên truyền hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (09/11); tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11), tuyên truyền, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa, phát động thành lập Hội Di sản văn hóa tỉnh Kiên Giang và hưởng ứng Năm Du lịch quốc gia 2016 - Phú Quốc - Đồng bằng sông Cửu Long được tổ chức thành công, chất lượng nghệ thuật và năng lực tổ chức ngày càng tiến bộ, đảm bảo trang trọng, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả.

Thể dục thể thao quần chúng: Phối hợp Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang lần thứ X năm 2016; gồm các giải: Đua ghe ngo nam -  nữ, giải Đua vỏ máy, giải Bóng chuyền nam, giải Bóng đá nữ 07 người và giải Vovinam; với sự tham gia của 4.516 vận động viên đến từ các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan ban, ngành và các câu lạc bộ trong tỉnh; thu hút 300.000 lượt người xem và cổ vũ. Phối hợp tổ chức Hội thao các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp tỉnh Kiên Giang lần thứ II năm 2016, gồm các môn: Bóng đá 05 người nam - nữ, Ném bóng vào rổ nam - nữ, Bóng chuyền nam, Bóng chuyền hơi nữ, Cầu lông nam - nữ, Kéo co nam - nữ, Dân vũ - Aerobic, Chạy 100 m nam - nữ và Nhảy xa nam - nữ; với sự tham gia của 750 vận động viên đến từ 11 trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp trong tỉnh..

 Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa - Thể thao (Du lịch)  các huyện, thị xã và thành phố tổ chức các giải thi đấu thể dục thể thao như: Bóng đá, bóng chuyền, quần vợt, đá cầu lưới, cầu lông, cờ tướng, bóng bàn, dẫn bóng qua cọc, ném bóng vào rổ, kéo co, đua thuyền truyền thống, thể hình... nhân dịp hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ngày Di sản văn hóa Việt Nam, Lễ hội Ok-Om-Bok của đồng bào Khmer; phục vụ hàng ngàn lượt người đến xem và cổ vũ.

Thể thao thành tích cao: Tham dự các giải Vô địch canoeing quốc gia năm 2016 tại Hải Phòng, giải Vô địch bắn cung toàn quốc năm 2016 tại Hà Nội, giải Vô địch điền kinh quốc gia năm 2016 tại Hà Nội, giải Vô địch cử tạ toàn quốc năm 2016 tại Đà Nẵng; kết quả: đạt 03 huy chương (01 HCV, 01 HCB và 01 HCĐ).

d. Tình hình y tế:

Kết quả phòng chống dịch bệnh: (tính từ ngày 17/10/2016 – 13/11/2016)

Sốt xuất huyết: Ghi nhận có 93 cas mắc (không có tử vong), so với tháng trước giảm 65 cas. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã có 1.092 cas mắc (tử vong 2 cas). So với cùng kỳ số mắc tăng 569 cas (gấp 2,1 lần), tử vong tăng 2 cas.

Tay chân miệng: Ghi nhận có 113 cas mắc (không có tử vong), so với tháng trước tăng 13 cas. Lũy kế đã có 643 cas mắc (không có tử vong), so với cùng kỳ số mắc giảm 261 cas (giảm 28,9%)[1].

Các bệnh khác có xu hướng giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ.   

Kết quả thực hiện chương trình Phòng, chống các bệnh xã hội và bệnh nguy hiểm cho cộng đồng: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tư vấn, khám phát hiện sớm và điều trị có hiệu quả, quản lý chặt chẽ các bệnh phong, lao, tâm thần. Trong tháng phát hiện 252 BN lao, 03 bệnh tâm thần phân liệt và 04 BN động kinh. Số quản lý đến nay là 464 BN phong, 5.026 BN lao, 2.242 BN tâm thần phân liệt và 2.791 BN động kinh.

Kết quả thực hiện chương trình phòng, chống HIV/AIDS: Thực hiện xét nghiệm 7.035 người, phát hiện mới 11 cas HIV dương tính. Tính đến thời điểm báo cáo, số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 2.000 người, trong giai đoạn AIDS là 1.370 người. Trong tháng, điều trị ARV cho 06 bệnh nhân HIV/AIDS, tích lũy số bệnh nhân điều trị từ đầu năm là 137 người, trong đó trẻ em là 4 em.

Kết quả thực hiện công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Thẩm định, cấp 93 Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện VSATTP, ký 351 Bản cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống; công bố 26 hồ sơ hợp quy, xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP; Thực hiện thanh tra, kiểm tra 1.105 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Trong đó 121 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP, đã hướng dẫn các cơ sở khắc phục và thực hiện tốt việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại cơ sở. Trong tháng ghi nhận 11 cas ngộ độc thực phẩm (do tác dụng độc của cồn).

đ. Tình hình an toàn giao thông:

Tính từ ngày 16/10/2016 đến 15/11/2016 trên toàn tỉnh xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, làm 10 người chết, 19 người bị thương. Trong đó: Số vụ TNGT nghiêm trọng là 13 vụ, làm 10 người chết và 12 người bị thương. So với tháng trước số vụ TNGT tăng 03 vụ, số người chết tăng 02 người, số người bị thương tăng 05 người. Tính từ đầu năm, xảy ra 221 vụ tai nạn giao thông, làm 124 người chết, 178 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, giảm 73 vụ (chủ yếu giảm những vụ va chạm); số người chết giảm 10 người, số người bị thương giảm 105 người. Tình hình tai nạn giao thông từ đầu năm đến nay có xu hướng giảm trên cả 3 mặt. Tuy nhiên, số vụ tai nạn nghiêm trọng vẫn còn tăng (tăng 02 vụ). Vì vậy, các ngành chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền kết hợp với kiểm tra thường xuyên, nhằm nâng cao ý thức văn hóa giao thông cho người dân khi tham gia giao thông, để giảm thiểu tối đa các vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn.

e. Tình hình cháy, nổ và thiên tai:

  Từ ngày 16/10/2016 đến 15/11/2016 toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy. Thiệt hại do cháy gây ra ước tính 60 triệu đồng, không có thiệt hại về người. Không có vụ nổ nào xảy ra. Về thiên tai, trong tháng do ảnh hưởng của bão số 7 nên từ đêm 15 đến sáng 16/10 đã có mưa lớn trên diện rộng đã làm một số tuyến đường nội ô thành phố Rạch Giá bị ngập sâu, làm rất nhiều nhà dân và trụ sở cơ quan bị ngập làm hư hỏng nhiều đồ đạc và tài liệu của cơ quan.

   Số lũy kế 11 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh xảy ra 47 vụ cháy, 01 vụ nổ. Thiệt hại lũy kế ước tính 24 tỷ 382 triệu đồng. Số người bị thương do cháy, nổ là 05 người.

Tải về:  - Số liệu kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2016

              - Chỉ số giá tháng 11 năm 2016 


[1] Từ 19/9/2016 đến 16/10/2016 có 158 cas SXH, 100 cas TCM.

 

Số lần đọc: 1231
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan