29.09.2020

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh ta qua 9 tháng đầu năm tuy có tăng trưởng nhưng thấp hơn so cùng kỳ nhiều năm, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản do thời tiết có phần thuận lợi nên có mức tăng trưởng khá; đời sống nhân dân ổn định, dịch bệnh được kiểm soát; an ninh chính trị, an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, tình hình Đại dịch Covid-19 diễn ra rất nghiêm trọng, phức tạp và kéo dài, đã ảnh hưởng toàn diện đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như tâm lý người dân, đặc biệt là sự gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, dịch vụ trong quý I và ảnh hưởng bùng phát dịch đợt 2 tại Đà nẵng và các tỉnh, thành phố khác dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh nhiều ngành kinh tế vẫn trên đà tăng trưởng thấp. Ở một số lĩnh vực gặp rất nhiều khó khăn như khách du lịch đến địa phương giảm mạnh, nhất là khách quốc tế và khách trong nước làm cho doanh thu của các ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm nhiều, nhất là các ngành dịch vụ du lịch; hoạt động kinh doanh bất động sản có phần bị chựng lại; một số sản phẩm công nghiệp như: mặt hàng Bia, Xi măng, chế biến thủy, hải sản… giảm so cùng kỳ; một vài nguồn thu chưa đạt kế hoạch, tăng trưởng tín dụng đạt thấp so nhiều năm gần đây...

Cụ thể từng lĩnh vực như sau:

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 9 tháng năm 2020 (giá so sánh 2010) ước tính 50.393,50 tỷ đồng, đạt 70,23% kế hoạch năm, tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn tăng trưởng 9 tháng năm của các năm 2016 - 2019[1]. Chia ra :

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: Tổng giá trị tăng thêm (VA) ước tính 19.009,85 tỷ đồng, đạt 84,81% kế hoạch, tăng 2,85% so cùng kỳ, đóng góp cho tăng trưởng chung khu vực I tăng 1,075 điểm phần trăm, trong đó: Giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp 13.351,02 tỷ đồng, tăng 3,11% so cùng kỳ (tăng 402,85 tỷ đồng), đóng góp tăng trưởng 0,822 điểm phần trăm; ngành thủy sản ước đạt 5.547,35 tỷ đồng, tăng 2,30% (tăng 124,95 tỷ đồng), đóng góp tăng trưởng là 0,255 điểm phần trăm. Tăng trưởng khu vực I giảm so với cùng kỳ 1,16%, chủ yếu là do ngành thủy sản giảm 3,15% nguyên nhân là giá trị khai thác hải sản giảm 2,66%, giá trị nuôi trồng tăng 7,22%, thấp hơn cùng kỳ năm 2019 1,56% (năm 2019 tăng 8,78%) nên không thể bù đắp được mức tăng chung của khu vực này.

Khu vực công nghiệp và xây dựng: Tổng giá trị tăng thêm ước tính 10.013,48 tỷ đồng, đạt 70,74% kế hoạch, tăng 4,91% so cùng kỳ (năm 2019 tăng 8,24%), đóng góp cho tăng trưởng chung khu vực II là 0,955 điểm phần trăm, trong đó lĩnh vực công nghiệp ước đạt 6.434,83 tỷ đồng, tăng 4,11% so cùng kỳ, đóng góp tăng trưởng là 0,518 điểm phần trăm. Ở khu vực II tốc độ tăng trưởng cũng giảm so cùng kỳ (giảm 3,33%), chủ yếu là ngành công nghiệp chế biến giảm 5,21% so cùng kỳ dẫn đến khu vực này đạt thấp.

Khu vực dịch vụ: Tổng giá trị tăng thêm ước tính 18.853,11 tỷ đồng, đạt 59,03% kế hoạch, tăng 1,60% so cùng kỳ, đóng góp cho tăng trưởng chung 0,606 điểm phần trăm. Khu vực III tốc độ tăng trưởng giảm so cùng kỳ là 7,55% (Mức tăng thấp nhất từ trước đến nay), Hầu hết các ngành dịch vụ do ảnh hưởng kép của dịch bệnh Covid-19 và Nghị định 100/NĐ-CP nên đều có mức tăng thấp hơn so với năm 2019; đặc biệt các ngành như: dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 7,18%; dịch vụ hỗ trợ du lịch giảm trên 60%; vận tải chỉ tăng 0,35%...đã làm giá trị tăng thêm khu vực này chỉ tăng 1,60% so cùng kỳ.

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2020, tiếp tục phát triển ổn định, bền vững theo định hướng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 37,41% GRDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 19,86%; khu vực dịch vụ chiếm 37,88%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,85% (Cơ cấu tương ứng 9 tháng năm 2019 là: 37,20%; 19,86%; 38,01%; 4,94%).

2. Tài chính, ngân hàng

Dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng Bảy tại Đà Nẵng và lây lan sang một số địa phương khác trên cả nước gây cản trở sự phục hồi của các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến tiến độ thu ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng 9/2020. Chi ngân sách tỉnh tập trung bảo đảm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, y tế, quản lý Nhà nước và hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng của dịch bệnh.

2.1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tháng Chín ước đạt 593 tỷ đồng, bằng 65,41% so tháng trước, giảm 25,36% so cùng tháng năm trước. Dự kiến 9 tháng  tổng thu ngân sách ước đạt 9.256,1 tỷ đồng, đạt 80,21% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 11,77% so cùng kỳ.[2] Một số khoản thu đạt cao so với dự toán như thu tiền sử dụng đất đạt 129,75% dự toán, tăng 6,38% so cùng kỳ; thu từ xổ số kiến thiết đạt 95,45% dự toán, tăng 9,31%; thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước đạt 264,80% dự toán... Tuy nhiên, còn nhiều khoản thu đạt thấp so với dự toán như: thu từ doanh nghiệp nhà nước TW đạt 54,49% dự toán, bằng 72,40% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 56,62% dự toán, bằng 83,65% so cùng kỳ; thu thuế công thương nghiệp ngoài nhà nước đạt 55,56% so dự toán, bằng 89,47% so cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân đạt 59,06% dự toán, bằng 92,67% cùng kỳ...

Tổng chi ngân sách địa phương tháng Chín ước chi 1.109,21 tỷ đồng, tăng 12,44% so với tháng trước, giảm 2,77% so cùng tháng năm trước. Dự kiến tổng chi ngân sách 9 tháng là 8.716,12 tỷ đồng, đạt 52,87% dự toán, tăng 3,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi thường xuyên 6.252,67 tỷ đồng, đạt 65,30% dự toán, tăng 5,08%; chi đầu tư phát triển 2.463,44 tỷ đồng, đạt 40,33% dự toán và giảm 0,22% so với cùng kỳ năm trước.

2.2. Hoạt động Ngân hàng

Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh trong quý III/2020 ổn định. Hoạt động huy động vốn và tín dụng tiếp tục tăng trưởng. So với quý trước, đầu năm và cùng kỳ 2019, huy động vốn trên địa bàn tiếp tục khởi sắc; tuy nhiên, mức tăng vẫn thấp hơn cùng kỳ. Ước đến 30/9/2020, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 99.800 tỷ đồng, tăng 2,11% so quý trước, tăng 5,05% so đầu năm (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,72%) và tăng 9,91% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn huy động tại địa phương ước đạt 53.000 tỷ đồng, tăng 0,71% so quý trước, tăng 4,92% so đầu năm (cùng kỳ năm 2019 tăng 6,46%) và tăng 8,39% so cùng kỳ, chiếm 53,11% tổng nguồn vốn hoạt động. Cơ cấu nguồn vốn huy động tại địa phương tăng chủ yếu ở số dư huy động VND và kỳ hạn ngắn  hạn.

Trước những khó khăn do ảnh hưởng tình hình hạn mặn và dịch bệnh Covid-19, các TCTD trên địa bàn đẩy mạnh thực hiện các giải pháp hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ và cho vay mới nhằm khôi phục, ổn định sản xuất kinh doanh. Nhìn chung, vốn tín dụng trên địa bàn trong quý III/2020 tiếp tục tăng trưởng, kịp thời đáp ứng, phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế xã hội địa phương. Ước đến 30/9/2020, doanh số cho vay trong quý III đạt 34.300 tỷ đồng (trong đó, gần 80% doanh số cho vay là phục vụ sản xuất kinh doanh); dư nợ cho vay 83.300 tỷ đồng, tăng 1,89% so quý trước, tăng 3,8% so đầu năm (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,2%) và tăng 10,16% so cùng kỳ. Trong đó dư nợ cho vay bằng VND 81.400 tỷ đồng (chiếm 97,72% tổng dư nợ), tăng 1,69% so quý trước, tăng 4,13% so đầu năm và tăng 10,37% so cùng kỳ.

Phân theo thời hạn cho vay: Dư nợ cho vay ngắn hạn 47.600 tỷ đồng (chiếm 57,14% tổng dư nợ), tăng 2,06% so quý trước, tăng 4,25% so đầu năm và tăng 12,45% so cùng kỳ. Dư nợ cho vay trung dài hạn 35.700 tỷ đồng (chiếm 42,86% tổng dư nợ), tăng 1,67% so quý trước, tăng 3,2% so đầu năm và tăng 7,25% so cùng kỳ.

Tín dụng chính sách xã hội tiếp tục được quan tâm, góp phần thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững. Tính đến 31/8/2020, dư nợ đạt 3.649 tỷ đồng (chiếm 4,43% tổng dư nợ toàn tỉnh), tăng 6,55% so đầu năm, tăng 0,2% so tháng 7/2020. Ước tính 9 tháng đầu năm, doanh số cho vay đạt 850 tỷ đồng; dư nợ 3.700 tỷ đồng (chiếm 4,44% tổng dư nợ toàn tỉnh), tăng 6,07% so quý trước, tăng 8,03% so đầu năm, tăng 10,99% so cùng kỳ; nợ quá hạn chiếm 1,89% tổng dư nợ chính sách.

Các TCTD tăng cường triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu hiện hữu, kiểm soát chất lượng tín dụng, chủ động rà soát, có kế hoạch xử lý nợ xấu phù hợp với diễn biến dịch Covid-19 nhằm phòng ngừa, ngăn chặn gia tăng nợ xấu. Tính đến cuối quý III/2020, nợ xấu nội bảng 1.000 tỷ đồng, chiếm 1,20% tổng dư nợ. Nợ tổn thất (nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro và đang theo dõi ngoại bảng) 800 tỷ đồng.

Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân: toàn tỉnh hiện có 22 QTDND đang hoạt động, ước tính đến 30/9/2020 tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.170 tỷ đồng, giảm 0,61% so quý trước, giảm 2,05% so đầu năm, nhưng tăng 0,47% so cùng kỳ; trong đó, vốn huy động đạt 850 tỷ đồng (chiếm 72,65% tổng nguồn vốn); vốn vay tại Ngân hàng Hợp tác xã và TCTD khác 170 tỷ đồng (chiếm 14,53% tổng nguồn vốn); vốn khác 150 tỷ đồng (chiếm 12,82% tổng nguồn vốn). Dư nợ cho vay ước đạt 985 tỷ đồng (chiếm 1,18% tổng dư nợ toàn tỉnh), tăng 0,2% so tháng trước nhưng giảm 5,32% so đầu năm và giảm 0,75% so cùng kỳ; tỷ lệ nợ xấu 0,75%

Hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng trên địa bàn khá ổn định. Tỷ giá vàng và ngoại tệ diễn biến theo xu hướng chung của cả nước và thế giới.

3. Đầu tư và xây dựng

Ước tính tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2020 là 29.185,18 tỷ đồng, đạt 60,80% kế hoạch, bằng 77,48% so cùng kỳ. Chia ra: Vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lý 27.324,86 tỷ đồng, đạt 61,58% kế hoạch, giảm 22,82% so với cùng kỳ; vốn đầu tư của Bộ ngành quản lý 1.860,32 tỷ đồng, đạt 51,32% kế hoạch, giảm 17,93% so với cùng kỳ.

Trong tổng số vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lý, vốn ngân sách nhà nước (Số giải ngân có đến 15/5/2020) ước 2.307,79 tỷ đồng mới đạt 37,78% kế hoạch năm, tăng 14,31% so cùng kỳ[3]. Tổng vốn NSNN do địa phương quản lý đạt thấp là do nguồn vốn của các Ban quản lý dự án đầu tư của tỉnh thời gian qua giải ngân còn rất chậm, chưa đạt theo yêu cầu đề ra.

 Theo Ban quản lý khu kinh tế của tỉnh: 9 tháng năm 2020, tổng giá trị đầu tư vào các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) đạt 545,77 tỷ đồng, tăng 3,32 lần so cùng kỳ. Trong đó KCN Thạnh Lộc giá trị đầu tư đạt 541,96 tỷ đồng, tăng 3,29 lần (chủ yếu từ nguồn vốn của các doanh nghiệp), giá trị đầu tư tăng chủ yếu từ triển khai xây dựng các dự án mới như dự án nhà máy sản xuất các sản phẩm may Toàn Lộc 178,33 tỷ đồng; dự án nhà máy sản xuất gia công đế giày Toàn Lộc 138 tỷ đồng; dự án sản xuất lắp rắp thiết bị điện, nước và ống nhựa của Cty TNHH PT Mekong 117 tỷ đồng...

Giá trị sản xuất kinh doanh của các dự án trong KCN Thạnh Lộc 9 tháng đạt 3.762 tỷ đồng, giảm 26,20% so cùng kỳ; giá trị nộp thuế ước đạt 453 tỷ đồng, giảm 29,65% so cùng kỳ, chủ yếu là các dự án Bia; vật liệu xây dựng; giày da; chế biến thủy sản đông lạnh.

4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Qua 9 tháng, tình hình đăng ký hoạt động các loại hình doanh nghiệp cũng có xu hướng phát triển chậm lại như số doanh nghiệp thành lập mới giảm so cùng kỳ, số doanh nghiệp tạm ngưng lại tăng hơn cụ thể như: Số doanh nghiệp được thành lập mới là 1.010 doanh nghiệp, giảm 25 DN so với cùng kỳ, tổng vốn đăng ký 13.269 tỷ đồng, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới chủ yếu là loại hình công ty TNHH 100 vốn DN và hầu hết thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ; Số doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động là 374 doanh nghiệp, tăng 119 DN so cùng kỳ; Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 207 DN, giảm 29 DN so cùng kỳ; Số Doanh nghiệp giải thể 166 doanh nghiệp, giảm 6 DN so cùng kỳ (các doanh nghiệp giải thể chủ yếu doanh nghiệp kinh doanh nhỏ, kinh doanh không hiệu quả và gặp khó khăn do dịch Covid – 19 gây ra).

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

5.1. Nông nghiệp

Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2020, trong điều kiện gặp rất nhiều khó khăn, mùa khô năm nay xâm nhập mặn xuất hiện sớm và sâu hơn mùa khô năm trước và ở mức cao hơn trung bình nhiều năm. Tình hình chăn nuôi do ảnh hưởng Dịch tả lợn Châu phi nên sản lượng thịt heo giảm mạnh; Thời tiết nắng nóng bất thường nên xảy ra dịch bệnh trên tôm nuôi; Tình trạng tàu cá của tỉnh Kiên Giang vi phạm vùng biển nước ngoài trái phép còn tiếp tục xảy ra; Tình trạng lấn, chiếm đất rừng vẫn tái diễn…

Tuy nhiên, trước sự chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đối với các ngành chức năng trong việc tổ chức triển khai kế hoạch sản xuất điều chỉnh, bố trí lịch thời vụ sản xuất từng vụ lúa ở từng vùng và các tiểu vùng hợp lý nhằm phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn, mưa lũ. Đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn; quản lý, vận hành các công trình thủy lợi điều tiết nguồn nước hợp lý phục vụ cho sản xuất và nước sinh hoạt cho nhân dân phát huy hiệu quả nên sản lượng thu hoạch các vụ lúa Mùa, Đông Xuân và Hè thu đạt khá cao so kế hoạch và tăng so cùng kỳ; Lĩnh vực thủy sản mặc dù còn gặp nhiều khó khăn vẫn duy trì phát triển ổn định…Cụ thể như sau:

Giá trị sản xuất lĩnh vực nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2020 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 51.652,73 tỷ đồng, đạt 82,63% kế hoạch, tăng 2,72% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, nông nghiệp đạt 27.141,74 tỷ đồng, tăng 3,11%.

Về trồng trọt: Diện tích gieo trồng của 3 vụ lúa (chính thức vụ Mùa, vụ Đông xuân và sơ bộ vụ Hè thu) là 635.731 ha, đạt 89,54% kế hoạch cả năm, giảm 1,18% so cùng kỳ; năng suất thu hoạch đạt 6,30 tấn/ha và sản lượng ước đạt 4.002.178 tấn, đạt 93,29% so kế hoạch cả năm, tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước (tăng 125.424 tấn so với 3 vụ năm trước). Kết quả từng vụ:

Vụ Mùa (2019-2020): Diện tích gieo trồng lúa mùa được 62.610 ha[4], đạt 94,86% kế hoạch, giảm 2,29% (giảm 1.465 ha) so với vụ Mùa năm trước. Năng suất thu hoạch 5,14 tấn/ha, sản lượng đạt 321.816 tấn, tăng 0,79% so với vụ mùa năm trước (tăng 2.525 tấn).

Vụ Đông Xuân (2019-2020): toàn tỉnh đã gieo trồng được 289.837 ha[5], vượt 0,29% kế hoạch, tăng 0,26% so cùng kỳ (tăng 743 ha). Kết thúc thu hoạch, năng suất đạt 7,32 tấn/ha, tăng 6,43% so cùng kỳ (tăng 0,44 tấn/ha); Sản lượng đạt 2.122.300 tấn, tăng 6,70% (tăng 133.270 tấn). Diện tích, năng suất, sản lượng lúa vụ đông xuân năm nay đều tăng so với cùng kỳ, đồng thời lại được mùa, được giá giúp nông dân có lãi sau thu hoạch nên bà con rất phấn khởi và an tâm đầu tư để gieo trồng hết diện tích lúa vụ Hè thu.

Vụ Hè thu (kể cả Xuân hè): kết thúc xuống giống, toàn tỉnh đã gieo trồng được 283.284 ha, đạt 100,10% so với kế hoạch, bằng 97,63% so cùng kỳ.[6]Đến nay đã thu hoạch được 198.773 ha, năng suất ước đạt 5,5 tấn/ha, sản lượng cả vụ ước đạt 1.558.062 tấn

Diện tích bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Hè Thu trong tháng là 35.267 ha, các đối tượng gây hại chủ yếu gồm bệnh đạo ôn lá 10.112 ha, sâu cuốn lá 9.244 ha, đạo ôn cổ bông 1.958 ha, lem lét hạt 7.956 ha, cháy bìa lá 3.773 ha, rầy nâu 1.501 ha…

Vụ Thu đông (vụ 3): tính đến ngày 15/9/2020, toàn tỉnh đã gieo trồng được 88.045 ha, đạt 122,28% so với kế hoạch, tăng 12,20% so cùng kỳ.[7]

Diện tích bị nhiễm sâu bệnh trên lúa Thu đông trong tháng là 10.112 ha, các đối tượng gây hại chủ yếu gồm bệnh đạo ôn lá 6.417 ha, cháy bìa lá 2.386 ha, sâu cuốn lá 88 ha, lem lét hạt 55 ha, rầy nâu 165 ha…

Cây rau màu: diện tích các loại rau màu đang có xu hướng tăng lên, tuy nhiên vẫn còn ở dạng nhỏ lẻ, chủ yếu là hộ gia đình, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn chậm. Tính từ đầu năm đến nay, bà con nông dân gieo trồng các loại cây màu như: dưa hấu trồng 1.417 ha, đạt 101,21% kế hoạch năm, tăng 25,96% so cùng kỳ; khoai lang 1.350 ha, đạt 90% so kế hoạch, tăng 20,32%; rau đậu các loại 8.150 ha, đạt 85,79% so kế hoạch, tăng 0,17%...

Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi đang hết sức khó khăn trước diễn biến của dịch bệnh, trong khi dịch tả heo Châu Phi chưa dứt thì nguy cơ tái phát cúm gia cầm đã xuất hiện ở nhiều tỉnh. Tuy tỉnh ta chưa xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm nào, nhưng nguy cơ rất lớn, cần phải có biện pháp phòng tránh hữu hiệu để nông dân yên tâm ổn định và phát triển đàn gia cầm.

Theo kết quả điều tra thống kê chăn nuôi thời điểm 01/7/2020, tổng số đàn trâu hiện có 4.234 con, giảm 15,49% so cùng thời điểm năm trước (giảm 776 con); Đàn bò 11.899 con giảm 4,09% (giảm 507 con); Đàn heo hiện có 199.487 con, giảm 5,49% (giảm 11.581 con). Đàn trâu, bò, heo, gia cầm đều giảm so với cùng kỳ nguyên nhân là do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi. Hiện nay, tình hình chăn nuôi heo đang từng bước được hồi phục, sau khi UBND tỉnh công bố hết dịch tả lợn châu Phi trên toàn tỉnh. Tuy nhiên, do nguồn cung giống còn thiếu hụt, giá heo giống và thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao làm cho chi phí đầu vào và giá thành chăn nuôi còn rất cao, nên người dân vẫn chưa yên tâm để đầu tư tái đàn, vì vậy việc tái đàn heo của tỉnh vẫn còn chậm và gặp rất nhiều khó khăn.

* Tình hình phát triển nuôi chim Yến:

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh, đến nay toàn tỉnh hiện có 2.856 hộ nuôi chim yến, tăng 654 hộ so cùng kỳ. Các địa phương có số nhà nuôi chim yến phát triển mạnh như: thành phố Rạch Giá 854 hộ; thành phố Hà Tiên 370 hộ, huyện Kiên Lương 266 hộ; Hòn Đất 646 hộ; Châu Thành 272 hộ…Sản lượng yến sào thu hoạch 9 tháng năm 2020 ước đạt 13.709 kg.

5.2. Lâm nghiệp

Năm nay, vào mùa khô nắng nóng kéo dài, khô hạn gay gắt, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao, các ngành chức năng đã phối hợp với các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao kiến thức về phòng chống cháy rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát, duy trì thường xuyên công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, chống chặt phá rừng nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại. Trong 9 tháng toàn tỉnh đã xảy ra 41 vụ cháy lớn, nhỏ có liên quan đến đất rừng, đất nông nghiệp giáp rừng gồm (huyện Giang Thành 2 vụ/20,22 ha; Kiên Hải 2 vụ/0,25 ha; Phú Quốc 33 vụ/32,83 ha; Hòn Đất 4 vụ/561,53 ha), với tổng diện tích cháy 614,82 ha, trong đó rừng phòng hộ 284,8 ha; rừng đặc dụng 20,33 ha; rừng sản xuất 309,69 ha.

5.3. Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010): tháng Chín ước đạt 2.958,40 tỷ đồng, tăng 6,90% so với tháng trước, giảm 3,54% so cùng tháng năm trước[8]. Tính chung 9 tháng giá trị sản xuất khai thác và nuôi trồng là 24.330,49 tỷ đồng, đạt 76,68% so kế hoạch năm, tăng 2,30% so với cùng kỳ[9].

Tổng sản lượng thủy sản (khai thác và nuôi trồng) tháng Chín ước đạt 79.017 tấn, tăng 8,03% so tháng trước, tăng 1,09% so tháng cùng kỳ. Tính chung 9 tháng là 633.241 tấn, đạt 83,87% kế hoạch năm, giảm 0,78% (giảm 4.959 tấn) so với cùng kỳ năm 2019. Chia ra:

Sản lượng khai thác tháng Chín ước đạt 47.986 tấn thủy hải sản các loại, tăng 2,33% so tháng trước, giảm 4,45% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, sản lượng khai thác được 433.497 tấn, đạt 87,58% kế hoạch, giảm 3,82% (giảm 17.222 tấn) so cùng kỳ. Sản lượng khai thác các loại hầu hết đều giảm so cùng kỳ, do việc khai thác hiện nay gặp rất nhiều khó khăn như ngư trường bị thu hẹp, nguồn lợi thủy sản giảm nên đánh bắt không hiệu quả dẫn đến thiếu nguồn lao động trầm trọng do thu nhập thấp, nhiều phương tiện khai thác bị thua lỗ kéo dài  dẫn đến phải nằm bờ.

Toàn tỉnh hiện có 9.849 tàu cá được quản lý, đăng ký, đăng kiểm, trong đó tàu có chiều dài từ 15 mét nước trở lên là 3.991 tàu cá. Tính đến ngày 15/9/2020 có 3.447/3.991 tàu đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình theo quy định.[10]

Sản lượng nuôi trồng tháng Chín ước đạt 31.031 tấn, tăng 18,20% so tháng trước (tăng 3.088 tấn).[11] Tính chung 9 tháng, sản lượng nuôi trồng được 199.744 tấn, đạt 76,82% kế hoạch, tăng 6,54% (tăng 12.263 tấn) so cùng kỳ năm trước, tăng chủ yếu là tôm các loại tăng 10,57% (tăng 7.262 tấn), trong đó: tôm sú tăng 1,62% (tăng 633 tấn); tôm thẻ chân trắng tăng 25,12% (tăng 5.415 tấn)…Tình hình nuôi trồng 9 tháng đầu năm sản lượng tăng cao và tăng đều ở các loại thủy sản nuôi là do tăng diện tích thả nuôi và thực hiện nuôi luân canh nhiều loại sản phẩm. Đồng thời sản lượng tôm tăng là do năm nay nhân dân nuôi xen canh, gối vụ nên năng suất cao hơn, các công ty nuôi tôm đang triển khai mô hình nuôi tôm công nghiệp 2 giai đoạn để tăng năng suất. Dự báo những tháng tới sản lượng tôm thẻ nuôi sẽ tăng cao do thị trường xuất khẩu đang có tín hiệu tốt, các doanh nghiệp, nhân dân đầu tư thả nuôi hết diện tích và đang chuẩn bị thu hoạch.

Diện tích thả nuôi tôm nước lợ 9 tháng được 129.364 ha các loại, đạt 98,98% kế hoạch, tăng 2,50% so cùng kỳ.[12]

6. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 9/2020 tiếp tục đối mặt với khó khăn, nhất là trong tình hình dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng 7/2020 tại Đà Nẵng và lây lan sang một số địa phương trên cả nước, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong tỉnh tiếp tục gặp nhiều khó khăn; nhiều sản phẩm có sản lượng giảm so cùng kỳ, chủ yếu trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; sản lượng tồn kho khá lớn; một số mặt hàng xuất khẩu gặp khó khăn do nhu cầu của thị trường giảm...Với những khó khăn trên, các doanh nghiệp phải điều chỉnh lại phương án sản xuất để giảm tồn kho, dẫn đến giá trị sản xuất ngành chế biến có tăng nhưng không như kỳ vọng.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): tháng Chín ước tính tăng 2,66% so tháng trước, tăng 6,90% so cùng tháng năm trước. Ngành tăng cao so cùng tháng năm trước là ngành chế biến, chế tạo tăng 7,92%[13]; kế đến là ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 7,86%; ngành khai khoáng tăng 7,59%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 3,08%. Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 3,58% so cùng kỳ năm trước, trong đó ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,54%; ngành khai khoáng tăng 5,24%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước đá tăng 0,93%; ngành chế biến, chế tạo tăng 3,67%[14].

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010): tháng Chín ước tính 4.513,97 tỷ đồng, tăng 2,83% so cùng tháng năm trước[15]. Tính chung 9 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành ước thực hiện 36.285,46 tỷ đồng, đạt 70,19% kế hoạch năm, tăng 4,76% so với sùng kỳ.[16]

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 9 tháng có tăng so cùng kỳ như mặt hàng Gỗ MDF tăng 2,22%; Điện thương phẩm tăng 9,20%; nước máy tăng 6,62%, mực đông tăng 1,78%. Nhưng cũng còn nhiều sản phẩm giảm so cùng kỳ như: Bia các loại đạt 51,32% kế hoạch năm, giảm 30,66% so cùng kỳ; Bột cá đạt 59,63% kế hoạch, giảm 18,01% so cùng kỳ; Bao bì PP đạt 47,35% kế hoạch, giảm 39,31% so cùng kỳ...

Nguyên nhân: Dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên toàn cầu làm chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn, đồng thời bùng phát trở lại ở một số địa phương trên cả nước từ cuối tháng 7/2020 đã ảnh hưởng đến sự phục hồi của sản xuất công nghiệp.

- Các doanh nghiệp chế biến thủy sản, sản xuất giày da: đều gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, nhiều đơn hàng thủy sản đã bị tạm giãn giao dịch và các đối tác nhập khẩu chưa tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng mới hoặc chưa có đơn đặt hàng làm cho sản lượng giảm so với cùng kỳ.

- Sản xuất bia, rượu: Ảnh hưởng từ dịch bệnh covid-19 tại Việt Nam và Nghị định 100/2019/NĐ-CP đã tác động kép đến đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mặt hàng này, doanh nghiệp phải điều chỉnh giảm sản lượng sản xuất do hàng hóa không tiêu thụ được và tồn kho nhiều.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín bằng 88,37% so tháng trước và giảm 8,32% so với cùng tháng năm trước. Một số ngành chỉ số tiêu thụ tăng so với tháng trước như sản xuất đồ uống tăng 18,35%, sản xuất chế biến tôm đông tăng 4,34%, sản xuất trang phục tăng 7,81%...còn lại các ngành khác đều giảm.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín tăng 14,05% so với tháng trước, tăng 18,12% so cùng tháng năm trước. Một số ngành chỉ số tồn kho tăng so với tháng trước như chế biến và bảo quản thủy sản tăng 8,78%, sản xuất chế biến Mực đông tăng 33,17%...

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tháng Chín tăng 0,83% so với tháng trước; tăng 2,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 0,91% so với tháng trước và tăng 2,98% so cùng kỳ.

7. Thương mại, dịch vụ và giá cả

7.1. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng:

Nhìn chung, thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ dự báo 9 tháng tăng trưởng thấp so với cùng kỳ nhiều năm, là do ảnh hưởng kép của Đại dịch Covid-19 và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ làm cho doanh thu của hầu hết các loại hình dịch vụ đều giảm và đạt thấp so với cùng kỳ. Trong đó dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành giảm mạnh, nhất là cuối quý I và đầu quý II. Thậm chí trong tháng 4 doanh thu du lịch lữ hành không phát sinh doanh thu.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng Chín ước đạt 9.698,71 tỷ đồng, tăng 3,27% so tháng trước, tăng 5,61% so cùng tháng năm trước. Tính chung 9 tháng ước tính 80.690,66 tỷ đồng, đạt 66,28% kế hoạch năm, tăng 1,59% so với cùng kỳ. Chia theo ngành hoạt động

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Chín ước đạt 7.279,25 tỷ đồng, tăng 3,85% so tháng trước, tăng 6,19% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng ước tính 60.624,26 tỷ đồng, đạt 68,32% kế hoạch, tăng 4,29% so cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng Chín ước đạt 1.286,39 tỷ đồng, tăng 2,18% so tháng trước, giảm 0,88% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, ước đạt 10.676,67 tỷ đồng, đạt 59,88% kế hoạch, giảm 9,32% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng Chín đạt 14,18 tỷ đồng, tăng 6,96% so tháng trước, chỉ bằng 40,68% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng ước đạt 122,40 tỷ đồng, đạt 24,40% kế hoạch, giảm 64,19% so cùng kỳ.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng Chín ước tính 1.118,89 tỷ đồng, tăng 0,80% so tháng trước, tăng 12,30% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng ước đạt 9.267,31 tỷ đồng, đạt 63,12% kế hoạch, tăng 0,99% so cùng kỳ.

7.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu: tháng Chín ước đạt 75 triệu USD, tăng 3,94% so với tháng trước, tăng 34,11% so cùng tháng năm trước[17]. Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu dự kiến 544,19 triệu USD, đạt 69,77% kế hoạch năm, tăng 14,12% so với cùng kỳ năm trước.[18]

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu: tháng Chín ước tính đạt 8 triệu USD, tăng 4,30% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng, trị giá hàng hóa nhập khẩu ước thực hiện 106,35 triệu USD, đạt 132,94% kế hoạch, tăng 8,43% so cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu dùng cho sản xuất, trong đó chủ yếu là nguyên liệu để sản xuất giày da.

7.3. Công tác xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch

Chín tháng đầu năm 2020, Trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch  đã chủ động phối hợp với các Sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ xúc tiến trọng tâm đảm bảo thực hiện theo kế hoạch và phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, đồng thời đẩy mạnh hoạt động thông tin tuyên truyền và quảng bá công tác xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch  trên trang thương mại điện tử và ứng dụng công nghệ 4.0 nhằm tăng cường các hoạt động xúc tiến phù hợp với tình hình dịch bệnh Covid-19, tăng cường công tác phối hợp xúc tiến với các tổ chức xúc tiến ngoài nước tại Việt Nam và Trung tâm xúc tiến các tỉnh, thành vùng ĐBSCL nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp tham gia… góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động SXKD của các doanh nghiệp. Với nỗ lực trên, 9 tháng 2020, Trung tâm đã triển khai 28/35 hoạt động, đạt 80% so kế hoạch năm, trong đó hoạt động xúc tiến trong tỉnh 6/9 hoạt động, xúc tiến ngoài tỉnh 4/16 hoạt động, hoạt động liên quan xúc tiến 15/4 hoạt động, hoạt động tuyên truyền quảng bá 3/3 hoạt động.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch còn gặp khó khăn nhất định. Do tác động của dịch bệnh Covid-19 đang còn diễn biến phức tạp và còn kéo dài nên sự kiện xúc tiến du lịch, thương mại đã bị tạm dừng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ triển khai thực hiện kế hoạch trong năm 2020.

7.4. Công tác quản lý thị trường

Trong 9 tháng, ngành quản lý thị trường đã kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm 1.582 vụ đạt 99% kế hoạch năm (trong đó: kế hoạch định kỳ 974 vụ, kế hoạch chuyên đề 180 vụ, đột xuất 428 vụ); phát hiện 377 vụ vi phạm, xử lý 427 vụ vi phạm hành chính (bao gồm số vụ kỳ trước chuyển sang); chuyển xử lý hình sự 03 vụ. Thu nộp ngân sách 8,7 tỷ đồng, đạt 109% kế hoạch năm (trong đó: phạt hành chính 7,2 tỷ, bán tang vật tịch thu 1,5 tỷ đồng). Các vụ vi phạm chủ yếu là vi phạm hàng cấm, hàng nhập lậu[19], hàng giả[20], vi phạm sở hữu trí tuệ, gian lận thương mại.

7.5. Vận tải

Trong 9 tháng năm 2020, do ảnh hưởng tình hình chung của Đại dịch Covid-19 nên khối lượng vận tải hành khách giảm mạnh so với cùng kỳ; vận chuyển hàng hóa tuy vẫn hoạt động bình thường trong thời gian giãn cách xã hội nhưng cũng bị ảnh hưởng là do việc vận chuyển các loại hàng hóa dùng cho sản xuất như hàng xuất khẩu, xi măng, Clinker đi các tỉnh và qua Campuchia cũng bị ảnh hưởng làm giảm khối lượng vận chuyển. Cụ thể như sau:

Doanh thu vận tải tháng Chín ước đạt 747,25 tỷ đồng, tăng 3,11% so cùng kỳ, tính chung 9 tháng đạt 8.589,5 tỷ đồng, giảm 1,82% so cùng kỳ.

Vận tải hành khách: tháng Chín ước tính 5,57 triệu lượt khách, tăng 2,22% so tháng trước, chỉ bằng 65,98% so với cùng kỳ; luân chuyển 364,13 triệu HK.km, tăng 3,61% so tháng trước, bằng 82,78% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng vận tải hành khách ước đạt 53,09 triệu lượt khách, đạt 53,75% kế hoạch năm, giảm 20,96% so cùng kỳ; luân chuyển 3.631,92 triệu HK.km, đạt 55,97% kế hoạch năm, giảm 18,54%[21].

Vận tải hàng hóa: tháng Chín ước đạt 980 ngàn tấn, tăng 7,10% so với tháng trước; luân chuyển 140,44 triệu tấn.km, tăng 7,69% so tháng trước. Tính chung 9 tháng vận tải hàng hóa ước tính 8,76 triệu tấn, đạt 62,56% kế hoạch, giảm 5,51% so cùng kỳ; luân chuyển 1.208,5 triệu tấn.km, đạt 61,02% kế hoạch, giảm 3,97% so cùng kỳ[22].

Giao thông nông thôn: tính đến ngày 15/9/2020 thực hiện đầu tư xây dựng cứng hóa 279,2 km/382 km đường giao thông nông thôn, đạt 73,09% so kế hoạch năm; nâng tổng số km đường GTNT trên địa bàn tỉnh được cứng hóa là 6.256,7 km/7.084 km đạt 88,32%.

7.6. Thông tin – truyền thông

Về ứng dụng công nghệ thông tin phát triển Chính quyền điện tử: Hiện nay, Cổng thông tin điện tử tỉnh và Thư điện tử công vụ, hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến đầu tư theo mô hình tập trung, đồng bộ. Hệ thống Quản lý văn bản và Hồ sơ công việc đã được nâng cấp, hoàn thiện và triển khai đồng bộ trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh đã giúp nâng cao hiệu quả việc gửi, nhận văn bản điện tử từ cấp tỉnh đến cấp xã.

Công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin được thường xuyên quan tâm, theo dõi, thực hiện các khuyến cáo về phòng chống mã độc, virus cho hệ thống máy chủ, máy trạm; đã triển khai thực hiện kế hoạch công tác bảo đảm an toàn thông tin cho các hệ thống dùng chung của tỉnh. Tỉnh Kiên Giang đã thực hiện được mô hình đảm bảo an toàn cho hệ thống thông tin theo mô hình “3 lớp” phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Về bưu chính – viễn thông: Các doanh nghiệp trên địa bàn thường xuyên nâng cao chất lượng an toàn, an ninh mạng lưới, chất lượng dịch vụ đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu sử dụng dịch vụ của các cấp, các ngành và các tổ chức, cá nhân trong tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 15 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chuyển phát bưu chính. có 101 bưu cục; 132 điểm Bưu điện - Văn hóa xã; bán kính phục vụ đạt 2,94 km/điểm. Hiện có 8 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổng số thuê bao điện thoại ước đạt 1.807.201 thuê bao, giảm 6,30% so cùng kỳ; tổng số thuê bao điện thoại dùng Internet băng rộng cố định và di động là 1.402.220 thuê bao, tăng 25% so cùng kỳ. 100% địa bàn xã được phủ sống mạng thông tin di động 3G, 4G.

7.7. Du lịch

Trong bối cảnh chung của đại dịch Covid-19, tình hình hoạt động du lịch Kiên Giang cũng chịu ảnh hưởng nặng nề chưa từng có và kéo dài nên lượng khách du lịch đến tỉnh ta giảm nhiều, nhất là lượng khách quốc tế, từ đó đã ảnh hưởng đến một số cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tạm ngưng đóng cửa, giải thể hoặc chuyển nhượng kinh doanh làm cho doanh thu của ngành du lịch giảm đáng kể.

Tổng lượt khách du lịch đến trên địa bàn tỉnh tháng Chín ước đạt 412,12 ngàn lượt khách, chỉ bằng 87,65% so tháng trước, bằng 60,12% so cùng tháng năm trước. Tính chung 9 tháng, tổng lượt khách du lịch đến Kiên Giang là 4.314,73 ngàn lượt khách, đạt 46,25% kế hoạch năm, chỉ bằng 62,52% so cùng kỳ năm trước. Trong đó lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch là 1.795,83 ngàn lượt khách, đạt 39,09% kế hoạch, chỉ bằng 57,41% so cùng kỳ. Trong đó số khách quốc tế 164,59 ngàn lượt khách, đạt 21,95% kế hoạch, chỉ bằng 29,34% so với cùng kỳ.

7.8. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 0,41% so với tháng trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,59%, khu vực nông thôn tăng 0,30%. CPI tháng Chín tăng nhẹ so với tháng trước là do có 3 nhóm hàng tăng, trong đó nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng cao nhất, tăng 1,98%; kế đến là nhóm giáo dục tăng 1,83%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,28%. Có 5 nhóm hàng giảm đó là nhóm hành ăn và dịch vụ ăn uống giảm -0,11%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm -0,02%; các nhóm như giao thông, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch, nhóm hàng hóa khác đều giảm ở mức giảm -0,03%. Còn lại các nhóm hàng khác không tăng, giảm hoặc tăng không đáng kể.

Tính đến tháng 12 năm trước (sau 09 tháng) chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,82%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,32% (trong đó lương thực tăng 5,42%; dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,22%, thực phẩm tăng 4,14%); kế đến là nhóm Văn hóa giải trí và du lịch tăng 3,53%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,61%; nhóm giáo dục tăng 2,00%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,75%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,66%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59% và nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,26%. Có 3 nhóm hàng giảm đó là nhóm giao thông giảm -14,17%; nhóm bưu chính viễn thông giảm -0,76%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm -0,64%.

Chỉ số giá vàng: giá vàng tháng 9 tăng 0,13% so với tháng trước, tăng 28,58% so với tháng 9 năm trước và bình quân 9 tháng so với cùng kỳ năm trước chỉ số giá vàng đã tăng 26,15%. Vàng nhẫn mức giá bình quân trong tháng 9 là 5.399.000 đồng/chỉ, tăng 7.000 đồng/chỉ so với tháng trước.

Giá vàng trong quý III biến động theo xu hướng chung trong nước và thế giới, tăng mạnh nữa đầu quý, sau đó giảm nhẹ và ổn định từ giữa cuối tháng 8 đến nay (mức biến động từ 30.000 - 4.000.000 đồng/lượng); mức giá vàng bán ra cao nhất đạt mức 62,0 triệu đồng/lượng; chênh lệch giữa giá mua và giá bán khá cao từ 2,7 - 11 triệu đồng/lượng. Đến thời điểm báo cáo, giá mua vào là 52 triệu đồng/lượng và giá bán ra là 57 triệu đồng/lượng.[23]

Chỉ số giá Đô la Mỹ: giá đô la Mỹ đang có xu hướng ổn định, tháng 9 chỉ số giá đồng đô la Mỹ so với đồng nội tệ không tăng so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm -0,03% và so với bình quân cùng kỳ tăng 0,18%. Giá đô la Mỹ bình quân tháng 9 năm 2020 là 2.327.000 đồng/100USD, không tăng so với tháng trước.

8. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI

8.1. Lao động, việc làm và đào tạo nghề

Trong 9 tháng năm 2020 tình hình đời sống của tầng lớp dân cư trong tỉnh chịu ảnh hưởng lớn bởi tác động của dịch Covid-19. Tại những thời điểm dịch bùng phát một số doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động sản xuất kinh doanh, thiệt hại rất lớn về kinh tế và ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập của số đông người lao động.

Thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ, về việc hỗ trợ các đối tượng do ảnh hưởng đại dịch Covid-19. Tính đến ngày 15/9/2020 tỉnh Kiên Giang đã hỗ trợ tổng số 211.008 đối tượng bao gồm: người có công với cách mạng; đối tượng bảo trợ xã hội; người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người lao động và hộ kinh doanh có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm, với tổng kinh phí là 210 tỷ 288 triệu đồng, đạt 98,86%, chia thành 02 đợt chi hỗ trợ gồm:

Đợt 1: chi cho đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo cho 161.535 người, với kinh phí là 160 tỷ 421,75 triệu đồng, đạt 97,73%.

Đợt 2: chi cho đối tượng người lao động và hộ kinh doanh cho 49.473 đối tượng, với kinh phí là 49 tỷ 866,4 triệu đồng, đạt 100%.

Tính chung 9 tháng đã giải quyết việc làm cho 26.285 lượt lao động, trong đó: trong tỉnh 16.202 lượt lao động, ngoài tỉnh 9.992 lượt lao động, hợp đồng lao động đi làm việc nước ngoài 91 lao động, đạt 75,10% kế hoạch.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển sinh, đào tạo 20.132 người đạt 80,53% so kế hoạch[24]. Giải quyết trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp cho 1.869 lao động (luỹ kế 10.665 LĐ). Tổ chức 05 phiên giao dịch việc làm có 49 doanh nghiệp tham gia tuyển lao động, có 2.296 người lao động đến tư vấn học nghề, tìm việc làm.  

8.2. Tình hình Giáo dục

Các cơ sở giáo dục đã chú trọng tổ chức các hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, phương pháp học tập sáng tạo cho học sinh. Các trường học đã triển khai linh hoạt, có hiệu quả việc thực hiện chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp theo từng chủ đề phù hợp với từng lứa tuổi, từng cấp học và điều kiện đặc thù của địa phương. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp tăng, tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học giảm. Ngành giáo dục đã từng bước sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập theo hướng tăng quy mô, giảm điểm lẻ, giảm bớt đầu mối trung gian và biên chế gián tiếp...; khắc phục một phần tình trạng thiếu biên chế kéo dài, nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục đảm bảo tính ổn định, bền vững. So với cùng kỳ năm học 2018-2019, toàn ngành giảm 18 trường (MN: 3, TH: 14, Trung tâm NN-TH: 1).

Tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn tỉnh về tổng kết năm học 2019 - 2020 và triển khai nhiệm vụ năm học 2020-2021. Tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2020-2021, có 9.826 học sinh đăng ký thi tuyển sinh vào 17 trường (trong đó 13 trường tuyển sinh bằng hình thức thi tuyển, 04 trường tuyển sinh bằng hình thức thi kết hợp xét tuyển), các trường còn lại tuyển sinh bằng hình thức xét tuyển. Đã tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020, với kết quả như sau: Tổng số thí sinh được công nhận tốt nghiệp 11.509 TS, trong đó thí sinh THPT 10.704, GDTX 805; Tổng số thí sinh không được công nhận tốt nghiệp: 253; Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 99,40% (tính cả thí sinh GDTX, tự do thì tỷ lệ tốt nghiệp 97,95%).

8.3. Hoạt động Văn hóa, Thể thao

Tổ chức thành công các sự kiện lễ hội, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của đất nước như Lễ hội đón Giao thừa Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 tại thành phố Rạch Giá, thành phố Hà Tiên, huyện Phú Quốc và huyện Vĩnh Thuận. Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020); 45 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2020); 75 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2020); tập trung tổ chức tuyên truyền, cổ động phục vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025… công tác tổ chức lễ hội tại các di tích lịch sử văn hóa đảm bảo an toàn, trang trọng, thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Hoạt động thể thao thành tích cao: đăng cai tổ chức Giải Billiards & Snooker vô địch quốc gia (vòng 1).[25] Các đội tuyển thể thao duy trì tập luyện thường xuyên theo kế hoạch và tham dự 17 giải thể thao khu vực, kết quả: đạt 115 huy chương trong đó có 34 huy chương vàng. Tiếp tục quản lý và kiểm tra quá trình tập luyện của các vận động viên đang tập trung tại Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia Cần Thơ.

Thể dục thể thao quần chúng: đã tổ chức 06 giải thể thao cấp tỉnh: Giải Vovinam[26], Giải Karate[27], Giải Võ cổ truyền[28] và Giải Cầu lông[29]...

8.4. Tình hình y tế

Ban chỉ đạo phòng, chống dịch của tỉnh thường xuyên tăng cường chỉ đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh, Trung tâm Y tế các huyện/thành phố thực hiện kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua biên giới đảm bảo việc loại trừ các rủi ro có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh đặc biệt tại huyện Phú Quốc, Giang Thành, TP Hà Tiên. Thường xuyên giám sát, theo dõi sức khỏe người bệnh sau khi cách ly tại các cơ sở y tế tập trung ngoài tỉnh trở về và nhập cảnh từ vùng dịch trở về.

Tình hình dịch bệnh 9 tháng năm 2020:

Tính đến ngày 18/9/2020 tòan tỉnh thực hiện xét nghiệm Covid-19 là 3.128 mẫu, kết quả âm tính là 3.127, ghi nhận 01 trường hợp mắc Covid-19 (đã điều trị khỏi). Kết quả rà soát các trường hợp trở về từ Đà Nẵng và các địa phương khác có liên quan có 1.311 người. Đã cách ly tập trung 31 người, cách ly tại nhà 700 người. Lấy mẫu xét nghiệm 533, kết quả đều âm tính 533.

Trong quý III, tình hình bệnh Sốt xuất huyết đã có 158 cas mắc, giảm 1.063 cas so với cùng kỳ 2019 (1.221 cas), tính chung 9 tháng có 481 cas mắc, giảm 1.718 cas so cùng kỳ; Tay chân miệng có 125 cas mắc, giảm 292 cas so với cùng kỳ 2019 (417 cas), tính chung 9 tháng có 295 cas mắc, giảm 1.031 cas, không có trường hợp tử vong.

Ngoài ra, các bệnh khác mắc giảm so với cùng kỳ như: Thương hàn (10/17), Viêm gan virut (29/45), Lỵ amíp (4/08), Sốt phát ban nghi sởi (5/173), Thủy đậu (26/46), Quai bị (3/19). Các bệnh mắc so với cùng kỳ tăng như Tiêu chảy (749/744), Cúm (306/298). Không có trường hợp tử vong.

Phòng chống HIV/AIDS, tổng số mẫu giám sát phát hiện quý III là 23.514 người[30], tăng 14,24% so với cùng kỳ 2019 (20.583 mẫu); Tính chung 9 tháng là 71.752, tăng 18,19% so với cùng kỳ 2019 (60.710 mẫu); Phát hiện mới 75 cas HIV(+), tăng 2,73% so với cùng kỳ 2019 (73 cas); Tính chung 9 tháng phát hiện mới được 244 cas HIV dương tính, tăng 19,60% so với cùng kỳ (204 cas); Số người điều trị Methadone là 121 người, tăng 5,22% so với cùng kỳ 2019 (115 người). Số bệnh nhân điều trị ARV mới là 89 bệnh nhân, tổng số điều trị ARV tích luỹ là 2.208 người[31]. Tính đến thời điểm báo cáo, số người còn sống ở địa phương nhiễm HIV là 2.998 người, trong giai đoạn AIDS là 1.724 người.

Công tác vệ sinh An toàn thực phẩm: qua 9 tháng đã thực hiện thanh, kiểm tra 11.922 cơ sở (giảm 77 cơ sở so cùng kỳ năm 2019). Trong đó: có 9.843 cơ sở đảm bảo VSATTP theo quy định và 2.079 cơ sở chưa đảm bảo VSATTP, qua đó đã xử lý nhắc nhở và hướng dẫn 1.880 cơ sở thực hiện việc đảm bảo an toàn thực phẩm, xử phạt 15 cơ sở với số tiền 54,55 triệu đồng, đình chỉ lưu hành 03 cơ sở, tiêu hủy sản phẩm vi phạm của 175 cơ sở, gồm 282 loại sản phẩm với khối lượng 1.225 kg thực phẩm không có nhãn, quá hạn sử dụng, chứa hóa chất ngoài danh mục của Bộ Y tế.

Toàn tỉnh ghi nhận 106 cas ngộ độc thực phẩm, giảm 02 cas so cùng kỳ (trong đó có 02 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể gồm 15 cas) nguyên nhân chủ yếu do vi sinh vật và ngộ độc thực phẩm do cồn. Không có cas tử vong

Theo báo cáo của BHXH tỉnh, ước tính đến 18/9/2020: Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 89,20%, với 1.542.148 người tham gia[32].  Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm xã hội đạt 11,27%, tương ứng với 104.262 người (trong đó: số người tham gia BHXH bắt buộc là 92.322 người, số người tham gia BHXH tự nguyện là 11.190 người); Tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 8,77%, tương ứng với 81.168 người tham gia.

8.5. Tình hình an toàn giao thông

Tính từ ngày 15/8/2020 đến 14/9/2020. Toàn tỉnh xảy 6 vụ tai nạn giao thông, làm 4 người chết, 7 người bị thương (toàn bộ là số vụ TNGT nghiêm trọng trở lên). So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông giảm 4 vụ, tăng 1 người bị thương, nhưng số người chết giảm 1 người. Tính chung 9 tháng (từ 15/12/2019 đến 14/9/2020) trên toàn tỉnh xảy ra 88 vụ tai nạn giao thông, làm 53 người chết, 55 người bị thương. Trong đó số vụ TNGT nghiêm trọng là 81 vụ, 53 người chết và 48 người bị thương. So với năm trước, giảm 16 vụ TNGT (giảm 15,38%), giảm 9 người chết  (giảm 14,52%) và giảm 18 người bị thương (giảm 24,66%).

Tình hình tai nạn giao thông từ đầu năm đến nay đã giảm trên cả 3 mặt so với cùng thời điểm năm trước, đây là điều đáng mừng. Tuy nhiên, các ngành chức năng cần phải thường xuyên tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và tuyên truyền, vận động nhân dân gương mẫu chấp hành Luật giao thông, để mọi người dân nâng cao ý thức khi tham gia giao thông nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông trên địa bàn.

8.6. Tình hình cháy, nổ và thiên tai

Tình hình cháy, nổ: từ ngày 15/8/2020 đến 14/9/2020 toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy (cháy 01 tàu đánh bắt thủy sản ở huyện Phú Quốc nguyên nhân do tuột ống dẫn dầu; 01 vụ cháy phòng khám đa khoa Tâm Đức tại thành phố Rạch Giá, đang điều tra làm rõ) và 01 vụ nổ bình ga ở huyện An Biên. Thiệt hại do cháy gây ra ước tính 5,6 tỷ đồng và làm bị thương 6 người. Tính chung 9 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 25 vụ cháy, 02 vụ nổ làm 2 người chết, 23 người bị thương. Thiệt hại ước tính 17 tỷ 900 triệu đồng.

Đặc biệt, vào khoảng 21 giờ ngày 21/9 tại khu phố Vĩnh Phước 2, thị trấn Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận xảy ra vụ cháy nhà máy xay lúa Nguyên Hưng, nhà máy chia làm 3 khu, vụ cháy làm thiệt hại hoàn toàn 1 khu đầu của nhà máy, ước thiệt hại ban đầu nhiều tỷ đồng, không thiệt hại về người. Hiện ngành chức năng đang điều tra, tìm hiểu nguyên nhân vụ cháy và rà soát, thống kê tổng thiệt hại về tài sản.

Tình hình thiên tai: từ ngày 15/09/2020 đến 20/09/2020 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 5, kết hợp đồng thời trường gió Tây Nam hoạt động với cường độ mạnh gây mưa trên diện rộng; sóng cao 2 -3m, biển động mạnh đã làm: Sập 06 căn nhà[33]. Tốc mái 22 căn nhà[34]. Nhà bị ngập nước tạm thời 43 nhà (Phú Quốc 42 nhà, Kiên Hải 01 nhà). Ước tính thiệt hại về nhà ở khoảng 440 triệu.

Thiệt hại về phương tiện đánh bắt thủy sản: sóng lớn đã đánh chìm 04 tàu đánh bắt thủy sản của ngư dân (Phú Quốc 02, Kiên Hải 02) và chìm 02 cano trên địa bàn Phú Quốc. Ước tính thiệt hại vật chất khoảng 710 triệu.

Thiệt hại về sản xuất: Diện tích lúa Hè thu lúa bị ngã đổ đang trong giai đoạn thu hoạch là 5.766 ha[35].

Sạt lở đê biển: sáng ngày 17/09/2020 mưa to, gió Tây Nam hoạt động mạnh, sóng lớn đã tiếp tục gây vỡ 03 đoạn đê biển (75 m) tại xã Vân Khánh Tây, huyện An Minh gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống nhân dân. Hiện nay, đoạn đê biển Tiểu Dừa – Kim Quy dài 4,3 km có 2,2 km cần khắc phục khẩn cấp.

Tính từ đầu năm đến nay, do ảnh hưởng tình hình thời tiết, thiên tai đã làm sập hoàn toàn 201 căn nhà, tốc mái 506 căn, làm ngập nước 74 căn, chìm 16 tàu đánh bắt thủy sản của ngư dân, 02 Cano và 01 tàu chở hàng; hư hỏng 30 km lộ giao thông nông thôn, sạt lở 175 m đường bờ biển và sét đánh làm chết 03 người, 03 người bị thương. Ước thiệt hại về vật chất trên 13,94 tỷ đồng.

Đề xuất kiến nghị

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh 9 tháng năm 2020, một số chỉ tiêu chủ yếu đạt thấp so với kế hoạch. Để cố gắng thực hiện đạt kết quả cao nhất các chỉ tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra, Cục Thống kê kiến nghị một số vấn đề như sau:

1. Trong lĩnh vực nông nghiệp: tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Đề nghị tăng cường sự chỉ đạo đối với các ngành chuyên môn trong việc theo dõi diễn biến mực nước tại khu vực các cống và tình hình thời tiết để phối hợp với địa phương trong vận hành đóng, mở cống phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Chỉ đạo các địa phương chủ động trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo không để xảy ra thiệt hại trên các diện tích lúa Hè thu còn lại và diện tích Thu đông đã xuống giống nhằm giữ được năng suất như dự kiến, góp phần tăng sản lượng lúa cả năm.

2. Về lĩnh vực thủy sản: Tiếp tục thực hiện một số giải pháp trọng tâm khắc phục tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp không khai báo và không theo quy định. Chủ động tăng cường công tác giám sát dịch bệnh trong các loại thủy sản nuôi, đặc biệt dịch bệnh trên tôm nuôi; Khuyến khích triển khai nhân rộng mô hình nuôi tôm công nghiệp 02 giai đoạn, hướng dẫn các cơ sở thực hiện nuôi tôm nước lợ áp dụng tiêu chuẩn VietGAP và các tiêu chuẩn quốc tế khác theo yêu cầu của thị trường; tổ chức quản lý chặt chẽ chất lượng con giống, thức ăn, thuốc thú y và kiểm soát dịch bệnh. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển hình thức nuôi ven biển, ven đảo và xa khơi, vận động kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nguồn lực mạnh đầu tư, đổi mới công nghệ thiết bị để phát triển nuôi vùng biển xa nhằm góp phần bù đắp lại sản lượng khai thác thủy sản giảm sút như hiện nay.

3. Trước những diễn biến phức tạp và kéo dài do dịch bệnh Covid-19 gây ra như hiện nay, cần tiếp tục tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và có kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh nhất là các lĩnh vực lưu trú, ăn uống và dịch vụ du lịch như khoanh nợ, giản nợ, giảm thuế…đồng thời đẩy mạnh kích cầu tiêu dùng hàng việt Nam trên thị trường nội địa để giảm bớt khó khăn giúp doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh an tâm, ổn định tình hình để tiếp tục đầu tư kinh doanh sản xuất trong thời gian tới.

Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường gắn với liên kết chuỗi giá trị đẩy mạnh kinh doanh và xuất khẩu, nhất là tranh thủ kết nối hoạt động xuất nhập khẩu trở lại với thị trường các nước đã cơ bản kiểm soát được dịch bệnh Covid - 19.

4. Cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn nhà nước quản lý nhất là các công trình trọng điểm. Chỉ đạo các Ban quản lý vốn đầu tư của tỉnh yêu cầu các chủ đầu tư, các địa phương cần tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA, ngân sách TW hỗ trợ mục tiêu; phải thường xuyên đôn đốc những chủ đầu tư, ban quản lý dự án chưa chủ động, thiếu sự quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và giám sát đầu tư để đảm bảo chất lượng và tiến độ đề ra.

Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chế biến như: Xi măng, bia, chế biến thủy hải sản tìm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước nhằm ổn định tình hình sản xuất trong điều kiện khó khăn hiện nay.

5. Ngành du lịch tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, có chính sách, biện pháp kích cầu như tuyên truyền về các điểm đến an toàn với những việc làm cụ thể, thiết thực nhằm thu hút khách du lịch nội địa đến tỉnh ta nhiều hơn. Đồng thời chuẩn bị các điều kiện vừa đảm bảo an toàn trong phòng chống dịch vừa đảm bảo việc phục hồi phát triển ngành du lịch trong giai đoạn hiện nay.

6. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, nhất là thực hiện tốt công tác hỗ trợ chính sách phải đúng quy định, đúng đối tượng bảo đảm mọi người dân được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ và thiên tai trong những tháng cuối năm./.

Tải về: - Số liệu kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2020 của tỉnh Kiên Giang;

            - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2020 của tỉnh Kiên Giang.


[1] Tăng trưởng 9 tháng của các năm: năm 2016 tăng 6,06%; năm 2017 tăng 7,82%; năm 2018 tăng 7,74%; năm 2019 tăng 7,01%.

[2] Trong đó: thu nội địa 9.059,51 tỷ đồng, đạt 79,75% dự toán, tăng 11,81% so cùng kỳ, chiếm 97,88% trong tổng thu ngân sách của tỉnh. 

[3] Trong đó vốn cân đối ngân sách địa phương 1.151,82 tỷ đồng, mới đạt 30,12% kế hoạch, giảm 6,33%.  

[4] Lúa vụ Mùa (2019 – 2020) đã gieo trồng ở các huyện An Biên 17.432 ha, An Minh 25.763 ha,Vĩnh Thuận 9.968 ha, U Minh Thượng 7.151 ha, Gò Quao 1.640 ha và thành phố Hà Tiên 657 ha.

[5] Lúa Đông Xuân (2019 – 2020) đã gieo trồng ở các huyện Hòn Đất 80.000 ha, Tân Hiệp 36.803 ha, Châu Thành 19.000 ha, Giồng Riềng 46.654 ha, Gò Quao 25.249 ha, An Biên 8.323 ha, An Minh 100 ha, Vĩnh Thuận 4.770 ha, U Minh Thượng 9.982 ha, Giang Thành 29.450 ha, Kiên Lương 24.000 ha và TP Rạch Giá 5.506 ha,

[6] Tập trung ở các huyện: Hòn Đất 78.688 ha, Giồng Riềng 46.707 ha, Tân hiệp 36.803 ha, Giang Thành 29.150 ha, Gò Quao 26.145 ha, Kiên Lương 23.000 ha, Châu thành 19.159 ha, An Biên 7.528 ha, U Minh Thượng 6.735 ha, Rạch Giá 5.490 ha và Vĩnh Thuận 3.879 ha.

[7] Tập trung ở các huyện: Giồng Riềng 33.514 ha, Tân hiệp 27.967 ha, Giang Thành 13.664 ha, Châu thành 6.483 ha, Hòn Đất 4.321 ha, Gò Quao 1.224 ha và Rạch Giá 872 ha.

[8] chia ra: Giá trị khai thác 1.286,58 tỷ đồng, tăng 1,71% so tháng trước, giảm 2,95% so cùng kỳ và giá trị nuôi trồng 1.671,81 tỷ đồng, tăng 11,27% so tháng trước, giảm 4,00% so cùng kỳ.

[9] Giá trị khai thác 11.519,78 tỷ đồng, đạt 73,92% kế hoạch, giảm 2,66% và giá trị nuôi trồng 12.810,71 tỷ đồng, đạt 79,34% kế hoạch, tăng 7,22% so cùng kỳ.

[10] Theo số liệu của các cơ quan chức năng cung cấp tính từ đầu năm đến nay tổng số tàu cá của ngư dân Kiên Giang khai khác thủy hải sản ở nước ngoài trái phép và bị bắt giữ là 37 tàu, với 393 ngư dân (Malaysia 16 tàu/160 ngư dân; Indonesia 14 tàu/181 ngư dân; Thái Lan 05 tàu/28 ngư dân; Campuchia 1tàu/19 ngư dân; Philippin 01 tàu/5 ngư dân), so với cùng kỳ giảm 4 tàu, 226 ngư dân.

[11] Trong đó: cá nuôi tăng 20,12% (tăng 2.069 tấn); tôm nuôi tăng 7,51% (tăng 656 tấn), trong đó tôm thẻ chân trắng tăng 39,02% (tăng 1.189 tấn).

[12] Chia ra: diện tích nuôi tôm công nghiệp 3.579 ha (có 3.509 ha tôm thẻ chân trắng); nuôi tôm quảng canh - quảng canh cải tiến 28.064 ha và nuôi tôm - lúa 97.721 ha

[13] Trong đó: ngành chế biến thực phẩm tăng 13,01%;  ngành sản xuất xi măng tăng 9,12%; Ngành sản xuất đồ uống tăng 10,42%...

[14] Trong đó: ngành chế biến thực phẩm tăng 5,27%;  ngành sản xuất xi măng tăng 3,31%; Ngành sản xuất đồ uống giảm 12,90%...

[15] Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 97,23% trong tổng số, tăng 2,89%.

[16] Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 97,08%/ trong tổng số, tăng 4,80%.

[17] Trong đó: hàng nông sản 25,21 triệu USD, tăng 99,98% so cùng tháng năm trước; hàng thủy sản 23,12 triệu USD, tăng 25,61% so cùng tháng năm trước.

[18] Trong đó: hàng nông sản 185,34 triệu USD, đạt 80,58% kế hoạch, tăng 45,80% so cùng kỳ; hàng thủy hải sản 165,87 triệu USD, đạt 65,05% kế hoạch, tăng 7,51% so cùng kỳ; nguyên liệu Giày da 91,73 triệu USD, đạt 45,87% kế hoạch, bằng 72,11% so cùng kỳ.

[19] Phát hiện, xử lý 45 vụ (26 vụ hàng cấm, 19 vụ hàng lậu) thu nộp ngân sách 874 triệu; tịch thu 7.423 bao thuốc lá ngoại nhập, 1.656 lon nước tăng lực các loại, 600 hộp nhang trừ muỗi, 616 kg đồ chơi trẻ em và nhiều hàng hóa khác…

[20] Phát hiện 17 vụ, trong đó: 12 vụ giả mạo nhãn hiệu, 5 vụ phân bón giả, chuyển xử lý hình sự 02 vụ.

[21] Trong đó, vận tải hành khách đường bộ giảm 21,03%; VT hành khách đường biển giảm 20,78% so cùng kỳ.

[22] Trong đó, Vận tải hàng hóa đường bộ giảm 8,84%; vận tải hàng hóa đường biển giảm 5,98%.

[23] Theo báo cáo quý III/2020 của ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Kiên Giang.

[24] Trong đó: cao đẳng 1.168 người, trung cấp 2.482 người, sơ cấp và dạy nghề thường xuyên 16.482 người.

[25] Từ ngày 10/6 - 20/6/2020 tại Nhà Thi đấu đa năng tỉnh Kiên Giang; với gần 1.000 cơ thủ đến từ các tỉnh, thành, ngành trong cả nước tham dự; dự kiến thu hút 5.000 lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

[26] Từ ngày 26/6 - 28/6/2020 tại Nhà Thi đấu đa năng tỉnh Kiên Giang; với gần 250 vận động viên nam, nữ đến từ các câu lạc bộ trong tỉnh tham dự.

[27] Từ ngày 25/7 - 27/7/2020 tại Trường Năng khiếu Thể dục thể thao tỉnh; với hơn 100 vận động viên đến từ 10 câu lạc bộ võ thuật của các huyện, thành phố, cơ quan, đơn vị trong tỉnh.

[28] Từ ngày 07/8 - 09/8/2020 tại Nhà tập đa môn Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh; tham gia thi đấu có 110 vận động viên nam, nữ đến từ 15 CLB thuộc các cơ quan, trường học, các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh; thu hút 1.000 lượt người đến xem và cổ vũ.

[29] Từ ngày 15/9 - 20/9/2020 tại Nhà Thi đấu đa Năng tỉnh Kiên Giang; với gần 100 vận động viên nam, nữ đến từ các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, các huyện và thành phố.

[30] Trong đó: Số mẫu xét nghiệm sàng lọc HIV là 9.900; số mẫu xét nghiệm HIV tại các cơ sở y tế 13.614.

[31] Trong đó: người lớn là 2.119 người và có 89 trẻ em dưới 15 tuổi.

[32] Chia ra: số hiện đang tham gia tại BHXH tỉnh là 1.451.055 người; số thẻ do BHXH Bộ Quốc phòng cấp năm 2020 trên địa bàn tỉnh 11.158 người; lực lượng vũ trang 20.000 người; số thẻ phải cấp của huyện đảo là 26.000 người; lao động đi làm việc, học tập ngoài tỉnh đã được tỉnh cấp thẻ là 33.935 người.

[33] Kiên Lương 01 căn, U Minh Thượng 02 căn, An Minh 02 căn.  

[34] Kiên Lương 01 căn, Hòn Đất 02 căn, Tân Hiệp 01 căn, An Biên 03 căn, An Minh 01 căn, Vĩnh Thuận 04 căn,  U Minh Thượng 04 căn, Kiên Hải 05 căn, Phú Quốc 01 căn.

[35] Hòn đất 1.816 ha, Châu Thành 1.200 ha, Giồng Riềng 2.000 ha, Gò Quao 650 ha, U Minh Thượng 100 ha

 

Số lần đọc: 144
Cục Thống kê Kiên Giang
Ý kiến phản hồi
Họ tên *
Tiêu đề gởi *
Nội dung gởi *
 
Nhập chữ và số ở trên
 
 
Tin liên quan